Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHẾ ĐỊNH NGƢỜI BÀO CHỮA 1. NHỮNG NHẬN THỨC CƠ BẢN VỀ CHẾ ĐỊNH NGƢỜI BÀO CHỮA 1. Khái niệm chế định ngƣời bào chữa NBC là một chế định quan trọng trong pháp luật TTHS Việt Nam, cho đến nay vẫn cần đƣợc làm sáng tỏ về mặt lý luận làm tiền đề cho việc thực hiện nguyên tắc “Bảo đảm quyền bào chữa của NBTG, bị can, bị cáo”. Tuy nhiên, trong khoa học pháp lý và thực tiễn TTHS hiện nay, chƣa có khái niệm thống nhất về chế định này, nên vẫn tồn tại nhiều cách hiểu và quan điểm khác nhau thể hiện trong các sách chuyên khảo, giáo trình, các bài báo, tạp chí cũng nhƣ trong qui định của pháp luật TTHS.
Để đƣa ra khái niệm khoa học về chế định NBC chúng ta cần hiểu đƣợc khái niệm chế định pháp luật và khái niệm NBC. “Chế định pháp luật bao gồm một số quy phạm có những đặc điểm chung giống nhau nhằm để điều chỉnh một nhóm quan hệ xã hội tương ứng”[57, tr. Về khái niệm NBC, trong khoa học pháp lý hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau. Có quan điểm cho rằng: “NBC là người tham gia tố tụng với mục đích làm sáng tỏ những tình tiết của vụ án nhằm chứng minh sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và giúp bị can, bị cáo về mặt pháp lý cần thiết” [16, tr.
Tƣơng tự nhƣ vậy, có quan điểm cho rằng: “NBC trong TTHS là người tham gia tố tụng để chứng minh sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ TNHS của người bị buộc tội, giúp người bị buộc tội về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ, thông qua đó góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa”[2]. Quan điểm khác cho rằng: “NBC là người được các CQTHTT chứng nhận, tham gia tố tụng để đưa ra 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com những tình tiết xác định NBTG, bị can, bị cáo vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của NBTG, bị can, bị cáo và giúp đỡ NBTG, bị can, bị cáo về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ” [58, tr.137] Có thể nói, các quan điểm trên xuất phát từ nhiều góc độ khác nhau trên cơ sở nghiên cứu chế định NBC trong Luật TTHS Việt Nam và thực tiễn thi hành luật. Mỗi quan điểm đều nhấn mạnh một hoặc một số đặc điểm của NBC, chƣa đƣa ra một cách khái quát, đầy đủ khái niệm NBC. Do đó, dễ dẫn đến cách hiểu khái niệm NBC chỉ bao gồm trách nhiệm, mục đích của NBC trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho NBTG, bị can, bị cáo mà chƣa khái quát hết các qui định của pháp luật TTHS về điều kiện, tiêu chuẩn, vị trí, vai trò tham gia tố tụng của NBC, chƣa mở rộng việc bào chữa đối với ngƣời bị bắt, ngƣời bị kết án mặc dù việc giúp đỡ họ về mặt pháp lý và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ là vô cùng quan trọng và cần thiết.
Vì vậy, theo chúng tôi một khái niệm đầy đủ về NBC phải thể hiện đƣợc các đặc điểm về NBC và phạm vi đối tƣợng bào chữa nhƣ sau: Thứ nhất, NBC là người tham gia tố tụng. Đặc điểm này nhằm phân biệt NBC với ngƣời THTT. Bởi ngƣời THTT là ngƣời nhân danh và sử dụng quyền lực nhà nƣớc để giải quyết VAHS. NBC chỉ là ngƣời tham gia làm sáng tỏ những tình tiết của vụ án, giúp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho NBTG, bị can, bị cáo, không phải là ngƣời trực tiếp giải quyết VAHS.
Thứ hai, NBC tham gia tố tụng với mục đích đưa ra những tình tiết xác định người bị bắt, NBTG, bị can, bị cáo, người bị kết án vô tội, những tình tiết giảm nhẹ TNHS đối với họ và giúp đỡ họ về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Đặc điểm này xác định nhiệm vụ, mục đích tham gia tố tụng của NBC đối với đối tƣợng bào chữa. Theo chúng tôi, nên mở rộng phạm vi đối tƣợng bào chữa không chỉ bao gồm NBTG, bị can, bị cáo nhƣ trong qui định của BLTTHS hiện hành mà bao gồm cả ngƣời bị bắt cho 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phù hợp với qui định của Hiến pháp năm 2013 và ngƣời bị kết án nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ trong giai đoạn thi hành án. Thứ ba, NBC là người được các CQTHTT chứng nhận thông qua việc cấp Giấy chứng nhận NBC.
Đặc điểm này đƣợc qui định tại khoản 4 Điều 56 BLTTHS năm 2003. Thứ tư, NBC là người đáp ứng đầy đủ các điều kiện do pháp luật qui định. Bởi không phải bất cứ ai cũng có thể tham gia tố tụng với tƣ cách là NBC. Theo qui định của pháp luật thì các điều kiện đó là: - Phải đƣợc NBTG, bị can, bị cáo hoặc ngƣời đại diện hợp pháp của họ, những ngƣời khác đƣợc họ ủy quyền mời [43, khoản 1 Điều 57]; [32, điểm 2 Mục II]; đƣợc CQTHTT yêu cầu Đoàn LS phân công Văn phòng LS cử NBC cho họ hoặc đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử NBC cho thành viên của tổ chức mình trong trƣờng hợp bắt buộc phải có NBC nhƣng NBTG, bị can, bị cáo hoặc ngƣời đại diện hợp pháp của họ không mời NBC [43, khoản 2, khoản 3 Điều 57]; hoặc do Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nƣớc cử Trợ giúp viên pháp lý hoặc Luật sƣ – Cộng tác viên tham gia để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ngƣời đƣợc trợ giúp pháp lý là NBTG, bị can, bị cáo [46, Điều 39]; - Phải không thuộc vào một trong những trƣờng hợp không đƣợc bào chữa theo qui định tại khoản 2 Điều 56 BLTTHS năm 2003; - Phải đáp ứng điều kiện do các văn bản pháp luật khác qui định.
Ví dụ: đối với NBC là LS thì phải đáp ứng các điều kiện do Luật LS và các văn bản hƣớng dẫn; đối với NBC là Trợ giúp viên pháp lý thì phải đáp ứng các điều kiện do Luật Trợ giúp pháp lý và các văn bản hƣớng dẫn,… Nhƣ vậy, trên cơ sở phân tích các đặc điểm về NBC và sự tiếp thu những điểm hợp lý, khắc phục những hạn chế trong các khái niệm NBC nói trên, dƣới góc độ khoa học Luật TTHS, chúng ta có thể rút ra khái niệm về NBC trong Luật TTHS nhƣ sau: “NBC trong Luật TTHS là người đáp ứng 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các tiêu chuẩn, điều kiện do pháp luật qui định, được CQTHTT cấp giấy chứng nhận, tham gia tố tụng theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức để chứng minh sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ TNHS của người bị bắt, NBTG, bị can, bị cáo, người bị kết án và giúp đỡ các chủ thể đó về mặt pháp lý trong các vụ án hình sự nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ”. Từ hai khái niệm chế định pháp luật và khái niệm NBC, có thể đƣa ra khái niệm khoa học về chế định NBC nhƣ sau: “Chế định NBC trong luật TTHS Việt Nam là tập hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh nhóm các quan hệ xã hội liên quan tới NBC, trong đó có chủ thể bào chữa, đối tượng bào chữa, quyền và nghĩa vụ của NBC”. Chủ thể bào chữa Một là, Luật sư Luật sƣ là ngƣời có đủ điều kiện hành nghề theo qui định của pháp luật, tham gia tố tụng theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức [45, Điều 2] nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức đó theo qui định của pháp luật. Hoạt động bào chữa của LS có tính chất chuyên nghiệp [58, tr.
Tiêu chuẩn để trở thành LS phải: là công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng Cử nhân Luật, đã đƣợc đào tạo nghề LS, đã qua thời gian tập sự hành nghề LS, có sức khỏe bảo đảm hành nghề LS [45, Điều 10]. Ngƣời có đủ tiêu chuẩn nói trên muốn đƣợc hành nghề LS phải có Chứng chỉ hành nghề LS và gia nhập một Đoàn LS [45, Điều 11]. LS có thể tham gia TTHS với tƣ cách NBC theo hợp đồng dịch vụ pháp lý hoặc theo yêu cầu của CQTHTT. - Với tƣ cách là NBC theo hợp đồng dịch vụ pháp lý: Tại Điều 26 Luật LS năm 2006 qui định: LS thực hiện dịch vụ pháp lý theo hợp đồng dịch vụ pháp lý, trừ trƣờng hợp LS tham gia tố tụng theo yêu cầu của CQTHTT và LS hành nghề với tƣ cách cá nhân làm việc theo hợp đồng lao động cho cơ quan, 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tổ chức.
NBTG, bị can, bị cáo có thể làm giấy trực tiếp yêu cầu và ký hợp đồng với LS mà mình chọn. Đối với NBTG, bị can, bị cáo không thể gặp trực tiếp LS, thì ngƣời thân thích của họ có thể làm giấy yêu cầu LS và ký hợp đồng dịch vụ pháp lý với LS. Trong những trƣờng hợp này nhất thiết phải có sự đồng ý của NBTG, bị can, bị cáo. Nếu NBTG, bị can, bị cáo đồng ý lựa chọn NBC, CQTHTT xem xét, cấp Giấy chứng nhận NBC cho LS để thực hiện việc bào chữa [45, Điều 27]; - Với tƣ cách là NBC theo yêu cầu của CQTHTT: Tại khoản 2 Điều 57 BLTTHS năm 2003 qui định: trong một số trƣờng hợp bắt buộc nếu bị can, bị cáo hoặc ngƣời đại diện hợp pháp của họ không mời NBC thì CQĐT, VKS hoặc TA phải yêu cầu Đoàn LS phân công Văn phòng LS cử NBC cho họ.
Đó là những trƣờng hợp: Bị can, bị cáo về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình đƣợc qui định tại Bộ luật Hình sự; Bị can, bị cáo là ngƣời chƣa thành niên, ngƣời có nhƣợc điểm về tâm thần hoặc thể chất. Hai là, người đại diện hợp pháp của NBTG, bị can, bị cáo Ngƣời đại diện hợp pháp của NBTG, bị can, bị cáo theo qui định của BLTTHS năm 2003 cũng là một chủ thể bào chữa nhƣng kể từ khi ban hành BLTTHS năm 1988 đến nay chƣa có một văn bản quy phạm pháp luật nào khái niệm về dạng chủ thể bào chữa này.