Quyền của Bị Hại Theo Luật Tố Tụng Hình Sự Việt Nam

Bài viết phân tích quyền của bị hại theo luật tố tụng hình sự Việt Nam, giúp hiểu rõ hơn về quy trình và quyền lợi trong vụ án hình sự.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2022

121
13
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Quyền Của Bị Hại Trong Luật Tố Tụng Hình Sự

Bị hại đóng vai trò then chốt trong quan hệ pháp luật tố tụng hình sự, là chủ thể mang quyền lợi và tham gia tích cực vào quá trình giải quyết vụ án. Các quyền của bị hại được ghi nhận trong luật tố tụng hình sự, thể hiện mục tiêu bảo vệ và nâng cao quyền con người, quyền công dân, phù hợp với Hiến pháp 2013 và tinh thần cải cách tư pháp. BLTTHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) bổ sung một số quyền mới của bị hại (Điều 62), như quyền đưa ra chứng cứ, đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi bị cáo, và tham gia một số hoạt động tố tụng. Luật cũng chỉnh lý, sửa đổi mở rộng hơn một số quyền cơ bản khác, tạo công cụ pháp lý quan trọng để bị hại chủ động bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, giúp xác định sự thật khách quan của vụ án. Các cơ quan tiến hành tố tụng cần nghiêm chỉnh chấp hành và tạo điều kiện để bị hại thực hiện tốt các quyền này, đảm bảo công bằng cho vụ án. Bị hại theo BLTTHS năm 2015, là “cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra”2. Theo quy định này thì bị hại bao gồm cá nhân hoặc cơ quan, tổ chức.

1.1. Định Nghĩa và Vai Trò của Bị Hại trong Tố Tụng Hình Sự

Bị hại được xác định là cá nhân, cơ quan, tổ chức chịu thiệt hại trực tiếp từ hành vi phạm tội. Thiệt hại có thể là về thể chất, tinh thần, tài sản đối với cá nhân, hoặc về vật chất, uy tín đối với cơ quan, tổ chức. Cá nhân, cơ quan, tổ chức chỉ trở thành bị hại khi được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng xác nhận bằng các quyết định pháp lý. Theo đó, thiệt hại của bị hại phải có mối liên hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội với hậu quả gây ra cho bị hại, đây là điều kiện quan trọng để phân biệt giữa bị hại và các chủ thể khác trong vụ án hình sự.

1.2. Quyền và Nghĩa Vụ Cơ Bản của Bị Hại Theo Quy Định Pháp Luật

Khoản 2 Điều 62 BLTTHS năm 2015 quy định bị hại và người đại diện của họ có rất nhiều quyền, bao gồm: Được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 62 BLTTHS; Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu; Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá; Đề nghị giám định, định giá tài sản theo quy định của pháp luật; Được thông báo kết quả điều tra, giải quyết vụ án; Đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật; Đề nghị hình phạt, mức bồi thường thiệt hại, biện pháp bảo đảm bồi thường; Tham gia phiên tòa; trình bày ý kiến, đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi bị cáo và người khác tham gia phiên tòa; tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; xem biên bản phiên tòa; Tự bảo vệ, nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình; Tham gia các hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật này; Yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình, người thân thích của mình khi bị đe dọa; Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án; Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng 8 của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; Các quyền khác theo quy định của pháp luật.

II. Vướng Mắc Thực Tế Về Quyền Yêu Cầu Khởi Tố Vụ Án

Thực tế cho thấy, quyền của bị hại trong tố tụng hình sự chưa được thực hiện một cách chủ động và toàn diện, còn nhiều vướng mắc và hạn chế. Vấn đề yêu cầu và rút yêu cầu khởi tố của bị hại đang gặp nhiều khó khăn khi thực hiện. Điều 155 BLTTHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) quy định “chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các Điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155 và 156 của BLHS khi có yêu cầu của bị hại…”, trong khi đó quyền yêu cầu khởi tố được gắn liền với chức năng buộc tội và quyền buộc tội của bị hại, quyền buộc tội đó có được xem có giá trị như cáo trạng của cơ quan công tố không và vị trí pháp lý của họ trong trường hợp này có được xác định giống như kiểm sát viên không? nhưng đến thời điểm này vẫn chưa hướng dẫn cụ thể về trình tự, thủ tục khởi tố để bị hại thực hiện quyền này.

2.1. Hạn Chế Trong Hướng Dẫn Thủ Tục Yêu Cầu Khởi Tố Vụ Án

Việc thiếu hướng dẫn cụ thể về trình tự và thủ tục để bị hại thực hiện quyền yêu cầu khởi tố vụ án hình sự tạo ra rào cản lớn. Quyền yêu cầu khởi tố được gắn liền với chức năng buộc tội của bị hại, nhưng chưa rõ quyền này có giá trị tương đương cáo trạng của cơ quan công tố hay không. Vị trí pháp lý của bị hại trong trường hợp này cũng chưa được xác định rõ ràng so với kiểm sát viên.

2.2. Khó Khăn Khi Rút Yêu Cầu Khởi Tố Ở Giai Đoạn Phúc Thẩm

Rút khởi tố là quyền của bị hại được thực hiện ở bất kỳ giai đoạn tố tụng nào, theo khoản 2 Điều 155 BLTTHS năm 2015. Tuy nhiên, nhà làm luật chưa tính đến hậu quả pháp lý của án sơ thẩm và các chủ thể liên quan nếu người bị hại rút yêu cầu khởi tố tại giai đoạn phúc thẩm. Hướng giải quyết bản án sơ thẩm, trách nhiệm của thẩm phán xét xử sơ thẩm, các nội dung, đồng phạm khác trong vụ án sẽ thực hiện như thế nào vẫn chưa có văn bản quy định chi tiết. Điều này gây khó khăn cho việc áp dụng pháp luật một cách thống nhất.

III. Cách Thực Hiện Quyền Đề Nghị Hình Phạt Bồi Thường

Quyền đề nghị hình phạt, đưa ra mức bồi thường thiệt hại, biện pháp bảo đảm bồi thường của bị hại được quy định tại khoản 2 Điều 62 BLTTHS năm 2015 sự tuy có thực hiện nhưng thụ động, bị hại chưa thật sự biết một cách cụ thể các quyền của mình và vai trò của các cơ quan có thẩm quyền để bị hại thực hiện quyền này còn quá mờ nhạt, sự chồng chéo giữa quy định Điều 62 BLTTHS năm 2015 và quy định của BLDS năm 2015 về bồi thường thiệt hại và biện pháp đảm bảo bồi thường của bị hại trong vụ án hình sự đang là một vấn đề cần trả lời thấu đáo.

3.1. Thủ Tục Đề Nghị Hình Phạt và Yêu Cầu Bồi Thường Thiệt Hại

Bị hại có quyền đề nghị hình phạt đối với bị cáo và yêu cầu bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra. Tuy nhiên, để thực hiện quyền này hiệu quả, bị hại cần thu thập đầy đủ chứng cứ chứng minh thiệt hại thực tế và mức độ trách nhiệm của bị cáo. Bị hại cũng cần nắm rõ các quy định của BLDS năm 2015 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng để đưa ra yêu cầu bồi thường phù hợp.

3.2. Vai Trò của Luật Sư trong Việc Bảo Vệ Quyền Lợi Bồi Thường

Luật sư đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của bị hại, đặc biệt là trong các vụ án phức tạp. Luật sư có thể tư vấn cho bị hại về quyền và nghĩa vụ của họ, giúp bị hại thu thập chứng cứ, soạn thảo các văn bản pháp lý cần thiết, và đại diện cho bị hại tại phiên tòa. Việc có luật sư giúp bị hại hiểu rõ quy trình tố tụng và tăng cơ hội được bồi thường thỏa đáng.

IV. Hướng Dẫn Khiếu Nại Tố Cáo Trong Tố Tụng Hình Sự

Bị hại có quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng và tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của người tiến hành tố tụng. Việc thực hiện quyền này giúp đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong quá trình giải quyết vụ án.

4.1. Thủ Tục Khiếu Nại Quyết Định Tố Tụng và Hành Vi Vi Phạm

Khi phát hiện quyết định hoặc hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền có dấu hiệu vi phạm pháp luật hoặc xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bị hại có quyền khiếu nại. Thủ tục khiếu nại được thực hiện theo quy định của BLTTHS, bao gồm việc gửi đơn khiếu nại đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết và cung cấp các chứng cứ liên quan.

4.2. Cơ Chế Bảo Vệ Bị Hại Khi Bị Đe Dọa Trong Quá Trình Tố Tụng

BLTTHS quy định các biện pháp bảo vệ bị hại, người thân thích của bị hại khi bị đe dọa về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản. Bị hại có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng áp dụng các biện pháp bảo vệ, như bảo vệ khẩn cấp, bảo vệ bí mật thông tin, và áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với người có hành vi đe dọa.

V. Nghiên Cứu Thực Tiễn Vấn Đề Bồi Thường Thiệt Hại Cho Bị Hại

Việc bồi thường thiệt hại cho bị hại là một nội dung quan trọng trong luật tố tụng hình sự. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy việc xác định mức bồi thường và thi hành quyết định bồi thường còn gặp nhiều khó khăn. Cần có các nghiên cứu cụ thể để đánh giá hiệu quả của các quy định pháp luật hiện hành và đề xuất các giải pháp cải thiện.

5.1. Đánh Giá Mức Bồi Thường Thiệt Hại Thực Tế Cho Bị Hại

Nghiên cứu cần tập trung vào việc đánh giá mức bồi thường thiệt hại thực tế mà bị hại nhận được so với thiệt hại mà họ phải gánh chịu. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến mức bồi thường, như tính chất và mức độ của thiệt hại, khả năng tài chính của người gây thiệt hại, và sự can thiệp của các cơ quan nhà nước.

5.2. Khó Khăn Trong Thi Hành Quyết Định Bồi Thường Thiệt Hại

Việc thi hành quyết định bồi thường thiệt hại thường gặp nhiều khó khăn do người gây thiệt hại không có khả năng tài chính hoặc cố tình trốn tránh nghĩa vụ. Cần nghiên cứu các giải pháp để tăng cường hiệu quả thi hành quyết định bồi thường, như thành lập quỹ bồi thường thiệt hại cho bị hại hoặc áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành hiệu quả hơn.

VI. Hoàn Thiện Quyền Của Bị Hại Giải Pháp Tương Lai

Để nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền lợi của bị hại trong tố tụng hình sự, cần tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật và tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật. Đồng thời, cần nâng cao năng lực của các cơ quan tiến hành tố tụng và tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan này.

6.1. Kiến Nghị Sửa Đổi Bổ Sung Luật Tố Tụng Hình Sự

Cần sửa đổi, bổ sung BLTTHS để quy định rõ hơn về trình tự, thủ tục thực hiện quyền yêu cầu khởi tố vụ án hình sự của bị hại, cũng như giải quyết các vấn đề phát sinh khi bị hại rút yêu cầu khởi tố ở giai đoạn phúc thẩm. Bên cạnh đó, cần làm rõ mối quan hệ giữa Điều 62 BLTTHS và các quy định của BLDS về bồi thường thiệt hại.

6.2. Nâng Cao Nhận Thức và Năng Lực Của Các Cơ Quan Tố Tụng

Cần tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ các cơ quan tiến hành tố tụng về các quy định pháp luật liên quan đến quyền của bị hại. Đồng thời, cần nâng cao nhận thức của người dân về quyền của họ và cách thức bảo vệ quyền lợi của mình khi tham gia tố tụng. Nên đẩy mạnh hơn nữa việc bảo vệ quyền của bị hại, không chỉ về mặt pháp lý, mà còn về sự an toàn của thân thể, tính mạng.

02/07/2025
Quyền của bị hại theo luật tố tụng hình sự việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu của quá trình tố tụng hình sự, là nhiệm vụ của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng sau khi xác định có các dấu hiệu của tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên các căn cứ như: tố giác của cá nhân; tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân; tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng; kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước; cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm; người phạm tội tự thú. Bị hại là chủ thể bị thiệt hại, tổn thương và cần được pháp luật bảo vệ. Họ được pháp luật tạo điều kiện để chủ động bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình thông qua việc yêu cầu khởi tố vụ án hình sự trong những trường hợp đã đề cập ở trên.

9 Các vụ việc khởi tố theo yêu cầu của hại thường có tính chất nguy hiểm không cao, phạm tội do vô ý hoặc cố ý nhưng thiệt hại không lớn, tính chất không nghiêm trọng, thường liên quan trực tiếp đến bản thân của bị hại. Đây là một quy định biệt lệ, bởi vì về nguyên tắc chỉ có Nhà nước mới có quyền quyết định việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Đối với những trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 155 BLTTHS năm 2015 thì yêu cầu khởi tố của bị hại là căn cứ làm phát sinh việc xem xét khởi tố vụ án hình sự. Điều này có nghĩa là dù vụ việc có dấu hiệu của tội phạm nhưng nếu bị hại không yêu cầu khởi tố thì cơ quan có thẩm quyền không thể khởi tố vụ án.

Có những vụ việc, bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ không muốn giải quyết bằng con đường tố tụng vì sợ ảnh hưởng đến uy tín, danh dự, nhân phẩm của mình; hoặc vì giữa bị hại và người gây thiệt hại có mối quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân gia đình, quan hệ công tác hoặc vì tốn kém thời gian, chi phí… hay trong một số trường hợp, bị hại quan tâm nhiều hơn đến vấn đề bồi thường dân sự. Trong trường hợp thực hiện quyền yêu cầu khởi tố vụ án hình sự thì bị hại cũng không trực tiếp thực hiện việc khởi tố, truy tố mà chỉ đưa ra yêu cầu khởi tố và đưa ra lời buộc tội công khai tại phiên tòa, VKSND là cơ quan giữ vai trò quyết định trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự, thay mặt Nhà nước kiểm sát tính có căn cứ và tính hợp pháp của quyết định khởi tố vụ án hình sự và các loại văn bản có liên quan đến việc khởi tố vụ án đó; đồng thời, giữ vai trò chính thực hiện buộc tội tại phiên tòa. * Quyền rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự của bị hại Khi vụ án đã được khởi tố theo yêu cầu của bị hại thì bị hại có quyền rút yêu cầu khởi tố vụ án ở bất kỳ giai đoạn nào nhằm chấm dứt việc giải quyết vụ án đó mà không ảnh hưởng đến lợi ích của xã hội và nhiệm vụ của nhà nước trong phòng, chống tội phạm3. Khi bị hại rút yêu cầu khởi tố, vụ án sẽ được đình chỉ và bị hại (hoặc người đại diện của họ) không có quyền yêu cầu lại nếu việc rút yêu cầu khởi tố đó là tự nguyện, không bị ép buộc, cưỡng bức.

Đây là một quy định được kế thừa từ BLTTHS năm 2003 và có sửa đổi, bổ sung về quyền yêu cầu của người bị hại trong khởi tố vụ án hình sự. BLTTHS năm 2003 quy định trong trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm thì vụ án phải được đình chỉ; điều này có nghĩa nếu người bị hại rút yêu cầu khởi tố vụ án sau khi mở phiên tòa sơ thẩm thì vụ án sẽ không được đình chỉ vì lý do này. 3 Khoản 2, 3 Điều 155 BLTTHS năm 2015 10 BLTTHS năm 2015 đã mở rộng thời điểm bị hại và người đại diện của họ rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự so với BLTTHS 2003. Khoản 2 Điều 155 quy định “Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ…”.

Việc đình chỉ vụ án hình sự được quy định cụ thể trong từng giai đoạn, trong giai đoạn điều tra, cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra; trong giai đoạn truy tố, VKSND quyết định không truy tố và ra quyết định đình chỉ vụ án; trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa ra quyết định đình chỉ vụ án. Trường hợp có kháng cáo, kháng nghị mà tại giai đoạn xét xử phúc thẩm người đã yêu cầu khởi tố vụ án hình sự rút yêu cầu thì Hội đồng xét xử hoặc Thẩm phán chủ tọa phiên tòa xét xử theo thủ tục rút gọn căn cứ vào khoản 2 Điều 155 và Điều 359 của BLTTHS năm 2015 hủy án sơ thẩm và đình chỉ vụ án. Trong bản án phúc thẩm, Tòa án phải nhận định rõ lý do hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án là do người yêu cầu khởi tố vụ án hình sự rút yêu cầu, không phải do lỗi của Tòa án cấp sơ thẩm4. Như vậy, trong giai đoạn phúc thẩm nếu bị hại rút yêu cầu khởi tố vụ án thì Tòa án cấp phúc thẩm phải hủy án sơ thẩm trước khi đình chỉ vụ án.

Thông qua quy định mở rộng thời gian bị hại được rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự dẫn đến chấm dứt việc giải quyết vụ án, nhà làm luật đã có sự tôn trọng quyền tự định đoạt của bị hại; mở rộng quyền con người, quyền công dân trong tố tụng hình sự. Bảo vệ bị hại không chỉ đơn thuần là trừng trị người phạm tội mà còn phải xem xét đến nguyện vọng của họ muốn xử lý vụ việc như thế nào. Đây là một quy định quan trọng của Nhà nước thể hiện tính dân chủ, nhân văn, tôn trọng quyền tự định đoạt của bị hại khi bị tội phạm gây thiệt hại về vật chất, thể chất, uy tín hoặc tinh thần, cho họ được tự chọn lựa phương án giải quyết phù hợp với quyền, lợi ích của mình. Thực tiễn thực hiện quyền yêu cầu và rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự của bị hại Để tìm hiểu thực tiễn thực hiện quyền yêu cầu, rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự của bị hại, tác giả tiến hành khảo sát ba bản án hình sự phúc thẩm tại ba địa phương là An Giang, Tuyên Quang và Cần Thơ.

Vụ án thứ nhất5: Khoảng 17 giờ ngày 18/6/2018, trong lúc uống rượu tại nhà Lê Thị Thúy (tổ 06, khóm Vĩnh Xuyên, phường Núi Sam, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang) 4 Công văn 254/TANDTC-PC của TANDTC, ngày 26/11/2018 của TANDTC. 5 Bản án HSPT số 41/2019/HS-PT ngày 27/02/2019 về “Huỳnh Văn Khanh cố ý gây thương tích” của TAND tỉnh An Giang. 11 Huỳnh Văn Khanh và Huỳnh Kim Quang xảy ra mâu thuẫn cự cãi nhau. Khanh dùng kéo đâm nhiều cái, trúng vùng lưng, tay, chân của Quang, gây thương tích; được mọi người can ngăn, đưa Quang đi cấp cứu, điều trị.

Ngày 21/6/2018, Huỳnh Kim Quang có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với Huỳnh Văn Tính và Huỳnh Văn Khanh, không yêu cầu bồi thường thiệt hại. Kết luận giám định pháp y số 157/18/TgT ngày 01/8/2018 của Trung tâm Pháp y tỉnh An Giang xác định Huỳnh Kim Quang tỷ lệ tổn thương cơ thể là 08%. VKSND thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo Huỳnh Văn Khanh về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định điểm a khoản 1 Điều 134 BLHS năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại bản án HSST số 86/2018/HS-ST ngày 27/11/2018 của TAND thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang đã quyết định: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn Khanh phạm tội "Cố ý gây thương tích"; xử phạt Huỳnh Văn Khanh 06 (sáu) tháng tù; ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về phần xử lý vật chứng; án phí hình sự và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 03/12/2018, bị cáo Huỳnh Văn Khanh có đơn kháng cáo với nội dung xin được hưởng án treo và bị hại ông Huỳnh Kim Quang có đơn rút yêu cầu khởi tố vụ án6. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Huỳnh Văn Khanh vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin được hưởng án treo, ông Huỳnh Kim Quang vẫn xác định kháng cáo xin rút toàn bộ yêu cầu khởi tố đối với bị cáo Khanh là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Tại bản án phúc thẩm, Hội đồng xét xử nhận định không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo và ông Quang xác định vẫn giữ nguyên ý kiến kháng cáo xin rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, không yêu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo Khanh; và việc rút yêu cầu khởi tố là hoàn toàn tự nguyện. Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 155, Điều 359 của BLTTHS năm 2015 và Công văn số 254/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của TANDTC thấy cần hủy bản án HSST số 86/2018/HS-ST ngày 27/11/2018 của TAND thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang và đình chỉ vụ án.

Việc hủy bản án sơ thẩm không phải do lỗi của Tòa án cấp sơ thẩm, mà hủy bản án sơ thẩm với lý do người đã yêu cầu khởi tố vụ 6 Công văn 254/TAND-PC ngày 26/11/2018: “…trường hợp kết thúc phiên tòa sơ thẩm vẫn còn thời hạn kháng cáo, kháng nghị mà người đã yêu cầu khởi tố vụ án hình sự rút yêu cầu thì Tòa án phải hướng dẫn họ làm đơn kháng cáo để Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết việc rút yêu cầu theo thủ tục phúc thẩm”. 12 án hình sự rút yêu cầu khởi tố, hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật TTHS. Do đó, TAND tỉnh An Giang căn cứ vào khoản 2 Điều 155 và Điều 359 của BLTTHS năm 2015; Công văn số 254/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của TANDTC tuyên hủy bản án hình sự sơ thẩm số 86/2018/HS-ST ngày 27/11/2018 của TAND thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang và đình chỉ vụ án. Vụ thứ hai7: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 05/01/2020, tại khu vực đường bê tông thuộc thôn B, xã T, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang, Phạm Văn D đã có hành vi dùng 01 đoạn gậy gỗ dài khoảng 80 cm đường kính 03 cm vụt 03 phát vào lưng, cổ tay trái, đùi phải của anh Bàn Văn C, gây thương tích với tỷ lệ tổn thưởng cơ thể 1%.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Quyền của Bị Hại trong Luật Tố Tụng Hình Sự Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về quyền lợi của những người bị hại trong quá trình tố tụng hình sự. Tác giả phân tích các quyền cơ bản mà bị hại được hưởng, từ quyền tham gia tố tụng đến quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại. Điều này không chỉ giúp nâng cao nhận thức của độc giả về quyền lợi của mình trong hệ thống pháp luật mà còn khuyến khích sự tham gia tích cực của họ trong các vụ án hình sự.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ luật học thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự theo sự việc trong luật tố tụng hình sự việt nam, nơi cung cấp thông tin chi tiết về thẩm quyền xét xử trong các vụ án hình sự. Ngoài ra, tài liệu Nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự theo luật tố tụng hình sự việt nam sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về cách thức giải quyết các vấn đề dân sự liên quan đến vụ án hình sự. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ bảo đảm quyền con người của bị can bị tạm giam trong giai đoạn điều tra theo luật tố tụng hình sự việt nam, để nắm bắt các quyền con người trong quá trình điều tra. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về quyền lợi và nghĩa vụ trong luật tố tụng hình sự.