mở đầu của quá trình tố tụng hình sự, là nhiệm vụ của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng sau khi xác định có các dấu hiệu của tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên các căn cứ như: tố giác của cá nhân; tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân; tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng; kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước; cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm; người phạm tội tự thú. Bị hại là chủ thể bị thiệt hại, tổn thương và cần được pháp luật bảo vệ. Họ được pháp luật tạo điều kiện để chủ động bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình thông qua việc yêu cầu khởi tố vụ án hình sự trong những trường hợp đã đề cập ở trên.
9 Các vụ việc khởi tố theo yêu cầu của hại thường có tính chất nguy hiểm không cao, phạm tội do vô ý hoặc cố ý nhưng thiệt hại không lớn, tính chất không nghiêm trọng, thường liên quan trực tiếp đến bản thân của bị hại. Đây là một quy định biệt lệ, bởi vì về nguyên tắc chỉ có Nhà nước mới có quyền quyết định việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Đối với những trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 155 BLTTHS năm 2015 thì yêu cầu khởi tố của bị hại là căn cứ làm phát sinh việc xem xét khởi tố vụ án hình sự. Điều này có nghĩa là dù vụ việc có dấu hiệu của tội phạm nhưng nếu bị hại không yêu cầu khởi tố thì cơ quan có thẩm quyền không thể khởi tố vụ án.
Có những vụ việc, bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ không muốn giải quyết bằng con đường tố tụng vì sợ ảnh hưởng đến uy tín, danh dự, nhân phẩm của mình; hoặc vì giữa bị hại và người gây thiệt hại có mối quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân gia đình, quan hệ công tác hoặc vì tốn kém thời gian, chi phí… hay trong một số trường hợp, bị hại quan tâm nhiều hơn đến vấn đề bồi thường dân sự. Trong trường hợp thực hiện quyền yêu cầu khởi tố vụ án hình sự thì bị hại cũng không trực tiếp thực hiện việc khởi tố, truy tố mà chỉ đưa ra yêu cầu khởi tố và đưa ra lời buộc tội công khai tại phiên tòa, VKSND là cơ quan giữ vai trò quyết định trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự, thay mặt Nhà nước kiểm sát tính có căn cứ và tính hợp pháp của quyết định khởi tố vụ án hình sự và các loại văn bản có liên quan đến việc khởi tố vụ án đó; đồng thời, giữ vai trò chính thực hiện buộc tội tại phiên tòa. * Quyền rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự của bị hại Khi vụ án đã được khởi tố theo yêu cầu của bị hại thì bị hại có quyền rút yêu cầu khởi tố vụ án ở bất kỳ giai đoạn nào nhằm chấm dứt việc giải quyết vụ án đó mà không ảnh hưởng đến lợi ích của xã hội và nhiệm vụ của nhà nước trong phòng, chống tội phạm3. Khi bị hại rút yêu cầu khởi tố, vụ án sẽ được đình chỉ và bị hại (hoặc người đại diện của họ) không có quyền yêu cầu lại nếu việc rút yêu cầu khởi tố đó là tự nguyện, không bị ép buộc, cưỡng bức.
Đây là một quy định được kế thừa từ BLTTHS năm 2003 và có sửa đổi, bổ sung về quyền yêu cầu của người bị hại trong khởi tố vụ án hình sự. BLTTHS năm 2003 quy định trong trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm thì vụ án phải được đình chỉ; điều này có nghĩa nếu người bị hại rút yêu cầu khởi tố vụ án sau khi mở phiên tòa sơ thẩm thì vụ án sẽ không được đình chỉ vì lý do này. 3 Khoản 2, 3 Điều 155 BLTTHS năm 2015 10 BLTTHS năm 2015 đã mở rộng thời điểm bị hại và người đại diện của họ rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự so với BLTTHS 2003. Khoản 2 Điều 155 quy định “Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ…”.
Việc đình chỉ vụ án hình sự được quy định cụ thể trong từng giai đoạn, trong giai đoạn điều tra, cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra; trong giai đoạn truy tố, VKSND quyết định không truy tố và ra quyết định đình chỉ vụ án; trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa ra quyết định đình chỉ vụ án. Trường hợp có kháng cáo, kháng nghị mà tại giai đoạn xét xử phúc thẩm người đã yêu cầu khởi tố vụ án hình sự rút yêu cầu thì Hội đồng xét xử hoặc Thẩm phán chủ tọa phiên tòa xét xử theo thủ tục rút gọn căn cứ vào khoản 2 Điều 155 và Điều 359 của BLTTHS năm 2015 hủy án sơ thẩm và đình chỉ vụ án. Trong bản án phúc thẩm, Tòa án phải nhận định rõ lý do hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án là do người yêu cầu khởi tố vụ án hình sự rút yêu cầu, không phải do lỗi của Tòa án cấp sơ thẩm4. Như vậy, trong giai đoạn phúc thẩm nếu bị hại rút yêu cầu khởi tố vụ án thì Tòa án cấp phúc thẩm phải hủy án sơ thẩm trước khi đình chỉ vụ án.
Thông qua quy định mở rộng thời gian bị hại được rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự dẫn đến chấm dứt việc giải quyết vụ án, nhà làm luật đã có sự tôn trọng quyền tự định đoạt của bị hại; mở rộng quyền con người, quyền công dân trong tố tụng hình sự. Bảo vệ bị hại không chỉ đơn thuần là trừng trị người phạm tội mà còn phải xem xét đến nguyện vọng của họ muốn xử lý vụ việc như thế nào. Đây là một quy định quan trọng của Nhà nước thể hiện tính dân chủ, nhân văn, tôn trọng quyền tự định đoạt của bị hại khi bị tội phạm gây thiệt hại về vật chất, thể chất, uy tín hoặc tinh thần, cho họ được tự chọn lựa phương án giải quyết phù hợp với quyền, lợi ích của mình. Thực tiễn thực hiện quyền yêu cầu và rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự của bị hại Để tìm hiểu thực tiễn thực hiện quyền yêu cầu, rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự của bị hại, tác giả tiến hành khảo sát ba bản án hình sự phúc thẩm tại ba địa phương là An Giang, Tuyên Quang và Cần Thơ.
Vụ án thứ nhất5: Khoảng 17 giờ ngày 18/6/2018, trong lúc uống rượu tại nhà Lê Thị Thúy (tổ 06, khóm Vĩnh Xuyên, phường Núi Sam, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang) 4 Công văn 254/TANDTC-PC của TANDTC, ngày 26/11/2018 của TANDTC. 5 Bản án HSPT số 41/2019/HS-PT ngày 27/02/2019 về “Huỳnh Văn Khanh cố ý gây thương tích” của TAND tỉnh An Giang. 11 Huỳnh Văn Khanh và Huỳnh Kim Quang xảy ra mâu thuẫn cự cãi nhau. Khanh dùng kéo đâm nhiều cái, trúng vùng lưng, tay, chân của Quang, gây thương tích; được mọi người can ngăn, đưa Quang đi cấp cứu, điều trị.
Ngày 21/6/2018, Huỳnh Kim Quang có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với Huỳnh Văn Tính và Huỳnh Văn Khanh, không yêu cầu bồi thường thiệt hại. Kết luận giám định pháp y số 157/18/TgT ngày 01/8/2018 của Trung tâm Pháp y tỉnh An Giang xác định Huỳnh Kim Quang tỷ lệ tổn thương cơ thể là 08%. VKSND thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo Huỳnh Văn Khanh về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định điểm a khoản 1 Điều 134 BLHS năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại bản án HSST số 86/2018/HS-ST ngày 27/11/2018 của TAND thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang đã quyết định: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn Khanh phạm tội "Cố ý gây thương tích"; xử phạt Huỳnh Văn Khanh 06 (sáu) tháng tù; ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về phần xử lý vật chứng; án phí hình sự và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 03/12/2018, bị cáo Huỳnh Văn Khanh có đơn kháng cáo với nội dung xin được hưởng án treo và bị hại ông Huỳnh Kim Quang có đơn rút yêu cầu khởi tố vụ án6. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Huỳnh Văn Khanh vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin được hưởng án treo, ông Huỳnh Kim Quang vẫn xác định kháng cáo xin rút toàn bộ yêu cầu khởi tố đối với bị cáo Khanh là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Tại bản án phúc thẩm, Hội đồng xét xử nhận định không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo và ông Quang xác định vẫn giữ nguyên ý kiến kháng cáo xin rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, không yêu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo Khanh; và việc rút yêu cầu khởi tố là hoàn toàn tự nguyện. Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 155, Điều 359 của BLTTHS năm 2015 và Công văn số 254/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của TANDTC thấy cần hủy bản án HSST số 86/2018/HS-ST ngày 27/11/2018 của TAND thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang và đình chỉ vụ án.
Việc hủy bản án sơ thẩm không phải do lỗi của Tòa án cấp sơ thẩm, mà hủy bản án sơ thẩm với lý do người đã yêu cầu khởi tố vụ 6 Công văn 254/TAND-PC ngày 26/11/2018: “…trường hợp kết thúc phiên tòa sơ thẩm vẫn còn thời hạn kháng cáo, kháng nghị mà người đã yêu cầu khởi tố vụ án hình sự rút yêu cầu thì Tòa án phải hướng dẫn họ làm đơn kháng cáo để Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết việc rút yêu cầu theo thủ tục phúc thẩm”. 12 án hình sự rút yêu cầu khởi tố, hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật TTHS. Do đó, TAND tỉnh An Giang căn cứ vào khoản 2 Điều 155 và Điều 359 của BLTTHS năm 2015; Công văn số 254/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của TANDTC tuyên hủy bản án hình sự sơ thẩm số 86/2018/HS-ST ngày 27/11/2018 của TAND thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang và đình chỉ vụ án. Vụ thứ hai7: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 05/01/2020, tại khu vực đường bê tông thuộc thôn B, xã T, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang, Phạm Văn D đã có hành vi dùng 01 đoạn gậy gỗ dài khoảng 80 cm đường kính 03 cm vụt 03 phát vào lưng, cổ tay trái, đùi phải của anh Bàn Văn C, gây thương tích với tỷ lệ tổn thưởng cơ thể 1%.