CHƯƠNG 1 TONG QUAN 1. Nghiên cứu về các điều kiện vi khí hậu Các điều kiện vi khí hậu như nhiệt độ và độ ẩm từ lâu đã được nghiên cứu nhiều trên thế giới bởi những ảnh hưởng chúng lên hoạt động, hiệu quả làm việc và học tập của con người. Một số ảnh hưởng của nhiệt độ được Wyon và cộng sự (2006) chỉ ra trong nghiên cứu của mình như sau: - Su khó chịu về nhiệt độ gây mất tập trung và dẫn đến sự phàn nàn làm tăng chi phí bảo trì, bảo dưỡng -_ Nhiệt độ cao làm giảm các hoạt động của con người, gây ra các triệu chứng trong tòa nhà (SBS) và có ảnh hưởng tiêu cực đến sự tập trung - _ Điều kiện nhiệt độ thấp làm giảm nhiệt độ của các ngón tay và giảm hiệu quả hoạt động của bàn tay - Su thay đổi nhiệt độ nhanh chóng (điều chỉnh nhiệt độ tăng ít) cho hiệu quả làm việc không thay đổi, trong khi thay đổi nhiệt độ một cách chậm chỉ gây ra sự khó chịu - _ Nhiệt được truyền theo phương thắng đứng làm giảm cảm giác về chất lượng không khí hoặc dẫn tới làm giảm nhiệt độ trong phòng, và gây ra sự phàn nan vé san lanh. Ngoài ra, Seppanen và cộng sự (2006) đã lập được mối liên hệ giữa nhiệt độ và hiệu quả làm việc và chỉ ra rằng hiệu quả làm việc giảm 1% cho mỗi 1°C thay đổi dựa trên 24 nghiên cứu của mình.
Bên cạnh đó, việc gia tăng nhiệt độ dẫn đến giảm hiệu quả làm việc đã được nghiên cứu nhiều trong các lĩnh vực khác nhau. Ví dụ, hiệu quả vận hành tại một trung tâm viễn thông tốt hơn khi duy trì nhiệt độ trong phòng dưới 25”C (Niemela và cộng sự, 2002) hay một nghiên cứu của Federspiel và cộng sự (2002) cho thấy các y tá làm việc tại một trung tâm tư vấn sức khỏe viết báo cáo chậm hơn 16% khi nhiệt độ làm việc trên 25,4°C. Tuy chưa có một mô hình chuẩn nào cho các nghiên cứu trên, tuy nhiên nó chỉ ra được mối liên hệ cụ thê giữa nhiệt độ trong phòng và hiệu quả làm việc của con người. Ngoài những ảnh hưởng tiêu cực của việc gia tăng nhiệt độ đến hiệu quả làm việc của người lớn thì việc gia tăng nhiệt độ cũng có ảnh hưởng đến khả năng học tập của học sinh.
Schoer và Shaffran (1973) đã báo cáo rằng trẻ em từ 10 đến 12 tuổi thực hiện các bài kiểm tra và bài tập đơn giản và lặp lại tốt hơn trung bình 5,7% ở phòng học máy lạnh có nhiệt độ 22,5°C so với phòng học không có điều hòa và nhiệt độ khoảng 26°C. Một nghiên cứu gần đây của Wargoki and Wyon ở trường học khi học sinh thực hiện các bài tập về toán học và ngôn ngữ đã đưa ra rằng khi SVTH: Nguyên Bình Phương Ngân Trinh GVHD: TS. Nguyén Lit Phuong Ludn van tot nghiép Nghiên cứu điều kiện vi khí hậu, CO, CO; trong phòng học trung tâm Anh ngữ ILA theo thời gian nhiệt độ giảm I°C thì tốc độ thực hiện các bài tập của học sinh tăng khoảng từ 2- 4%. Từ các nghiên cứu trên thế giới về ảnh hưởng của điều kiện nhiệt độ, độ ẩm đến hoạt động, sự tập trung và khả năng học tập của con người, ta có thé thay duoc viéc nghién ctru về điều kiện vi khí hậu hiện nay ở nước ta là việc làm cần thiết.
Đặc biệt là điều kiện vi khí hậu trong lớp học, nơi đối tượng tham gia là các em học sinh thì đây là việc hết sức cần thiết để bước đầu đánh giá được sơ bộ điều kiện nhiệt độ, độ ảm đề điều chỉnh sao cho thích hợp, tối ưu hóa việc học và tiếp thu của các em học sinh. Nghiên cứu về điều kiện thông gió, CO; và CO Hiện nay đã có nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ thông gió có liên hệ với chất lượng không khí trong nhà. Seppanen và cộng sự (2006) đã chỉ ra rằng có mối quan hệ về số lượng giữa hiệu quả trong văn phòng và tỷ lệ thông gió thông qua nghiên cứu của mình. Tuy nhiên, các nghiên cứu về chất lượng môi trường không khí trong nhà, đặc biệt là môi trường không khí trong lớp học còn khá ít và rời rạc.
Một nghiên cứu được thực hiện bởi Turk và cộng sự (1989) tại 6 trường ở Oregon, Mỹ và 2 trường ở Washington, Mỹ, cho biết tỷ lệ thông gió cho toàn bộ tòa nhà nằm trong khoảng 4,5 — 31 1⁄s-người, trong khi tỷ lệ thông gió trung bình trong lớp học chỉ đạt 1,6 l⁄s-người. Ngoài ra, ở Đan Mạch, tỷ lệ thông gió trung bình đo được ở 11 trường là 6. Theo tiêu chuân ASHRAE 62 — 2004 về chất lượng không khí trong nhà, tỷ lệ thông gió tối thiêu khuyết nghị trong phòng học là 8 l/s-người. Điều này cho thấy, điều kiện thông gió ở các trường học ở một số nơi trên thế giới vẫn chưa đáp ứng được tiêu chuẩn và có thê dẫn tới những ảnh hưởng tiêu cực đến học sinh, đặc biệt là học sinh tiểu học.
Shaughnessy và cộng sự (2006) đã thực hiện nghiên cứu ở 54 trường tiêu học ở Mỹ, cho thấy có mối liên hệ giữa hiệu quả học tập của học sinh tiêu học đối với tỷ lệ thông gió trong phòng học (được tính toán theo nồng độ CO; đo được). Hiệu quả học tập của các em học sinh lớp năm được đánh giá thông qua bài kiểm tra toán và đọc trong mỗi điều kiện thông gió nhất định. Kết quả cũng cho thấy, khả năng đọc và làm toán của học sinh tăng tỷ lệ thuận với điều kiện thông gió và đạt hiệu quả cao nhất ở tỷ lệ thông gió là 4,5 l⁄s-người (cho 12 học sinh). Sự thiếu hụt thông gió trong phòng học có thê dẫn đến sự tích tụ các chất hóa học và vi sinh vật trong không khí, nồng độ của các chất ô nhiễm trong lớp học càng tăng.
Điều này không những ảnh hưởng đến khả năng tiếp thu của học sinh mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe của các em (Daisey và cộng sự, 2003). Kết quả nghiên SVTH: Nguyên Bình Phương Ngân Trinh GVHD: TS. Nguyén Lit Phuong Ludn van tot nghiép Nghiên cứu điều kiện vi khí hậu, CO, CO; trong phòng học trung tâm Anh ngữ ILA theo thời gian cứu của Myhrvold và cộng sự (1996) thực hiện ở 22 phòng hoc tai 5 trường ở Na Uy cho thấy có mối tương quan từng phần (one-way ANOVA, P<0.001) giữa các bệnh như nhức đầu, chóng mặt, mệt mỏi, khó tập trung và nồng độ CO; cao (1500- 4000ppm so với nồng độ dưới 1500ppm). Hơn nữa, ở 14 trường được nghiên cứu ở Hà Lan chỉ ra rằng, có mối liên hệ các “bénh trong toa nha” (Sick building sydrome) và nồng độ CO; cao (Potting và cộng sự, 1987).
Kết quả của hai nghiên cứu trên có thê không tương khớp nhau tuy nhiên, nó cũng cho thấy tỷ lệ thông gió và nồng độ CO; có thê đại diện cho các yếu tố thực khác mà gây ra các bệnh cho học sinh (Daisey và cộng sự, 2003). Một số các khái niệm cơ bản 1.1 Chất lượng môi trường trong nhà (Indoor environment quality - IEQ) Theo định nghĩa của REHVA ICQ Assessment Guidebook, chất lượng môi trường trong nhà (IEQ) được xác định là tập hợp của nhiệt, tầm nhìn, âm thanh, rung động và thoải mái về nhiệt. Và chất lượng không khí trong nhà (IAQ) ảnh hưởng đến cách hành xử, năng suất trong lao động, hiệu quả học tập và chỉ phí về năng lượng.2 Chất lượng không khí trong nha (Indoor air quality - IAQ) Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về chất lượng không khí trong nhà (IAQ). Trong thuật ngữ của Indoor Air Sciences, Hiệp hội quốc tế về chất lượng không khí trong nhà và khí hậu (ISIAQ) định nghĩa chất lượng không khí trong nhà như một chỉ số về loại và nồng độ của các chất ô nhiễm trong không khí có thể gây khó chịu hoặc có nguy cơ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người hoặc động vật, hoặc gây hại cho thực vật.
Theo định nghĩa của EPA, chất lượng không khí trong nhà (IAQ) đề cập đến chất lượng không khí bên trong và xung quanh các tòa nhà và công trình, đặc biệt là khi nó liên quan đến sức khỏe và sự thoải mái của những người sinh sống và làm việc. Sự hiểu biết và kiểm soát các chất ô nhiễm trong nhà có thể giúp giảm nguy cơ gây ra các vấn đề về sức khỏe trong nhà. Các cách để đánh giá chất lượng không khí trong nhà Theo REHVA ICQ Assessment Guidebook, có ba cách khác nhau để đánh giá chất lượng không khí trong nhà và thể hiện kết quả một cách định lượng, lần lượt dựa trên: - _ Các giá trị đo được của từng nồng độ riêng biệt của một tập hợp các chất gây ô nhiễm (các hạt, các hợp chất hóa học, nắm, vi khuẩn, .) SVTH: Nguyén Bình Phương Ngân Trinh GVHD: TS. Nguyén Lit Phuong Ludn van tot nghiép Nghiên cứu điều kiện vi khí hậu, CO, CO; trong phòng học trung tâm Anh ngữ ILA theo thời gian -_ Các giá trị tính toán định lượng nhằm đánh giá mức độ khuếch tán của các chất ô nhiễm thông qua quá trình thông gió (ví dụ như tỷ lệ thông gió) - Danh gid chủ quan, thể hiện trên thang số chỉ mức độ không hài lòng của bảng đánh giá.
Các phương trình của sự phát triển theo thời gian của nông độ chất ô nhiễm Xem xét một căn phòng (vùng) đồng nhất, nơi có một nguồn ô nhiễm có trao đổi khí với không khí bên ngoài, và một máy lọc không khí có thê được hoạt động. Cho rằng có khả năng lắng đọng và hấp thu các chất ô nhiễm trên các bức tường và các bề mặt khác, sự phát triển theo thời gian của nồng độ của một chất được xác định bởi phương trình vi phan sau: dC G SQ OT at Mest AC — va - TF ar Vv CEac Trong do: C là nồng độ trung bình tức thời của chất gây ô nhiễm [mg / m] G là chất ô nhiễm tạo ra từ bên trong phòng [mg / h] V là thể tích phòng [m'] 2% là tỷ lệ trao đổi không khí tức là tỷ lệ dòng khí sạch được cấp cho phòng theo thể tích phòng [h”] Cạ« là nồng độ của các chất ô nhiễm trong không khí bên ngoài [mg / m°] vạ là tốc độ lắng của các chất gây ô nhiễm [mg / h.m?] S là diện tích bề mặt lắng [m?] Q« là tỷ lệ dòng khí qua bộ lọc khí [m° / h] £ac là hiệu quả của bộ lọc không khí [-] SVTH: Nguyên Bình Phương Ngân Trinh GVHD: TS.