Chương 1- TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan tài liệu về nghiên cứu tài nguyên cây thuốc trên thế giới Cây thuốc đã phát triển qua nhiều thế kỷ như một phần thiết yếu của nền văn minh ngày nay. Nhu cầu ngày càng tăng đối với các sản phẩm từ cây thuốc đã làm gia tăng mối quan tâm đến ngành công nghiệp dược phẩm trong việc sản xuất các công thức chăm sóc sức khỏe bằng thảo dược, các sản phẩm mỹ phẩm từ thảo dược và các chất bổ sung dinh dưỡng từ thảo dược. Vì vậy, ngoài việc phục vụ các chức năng y tế và văn hóa, cây thuốc cũng có tầm quan trọng kinh tế. Do đó, việc nghiên cứu về đa dạng cây thuốc tại các quốc gia rất được quan tâm từ cách đây hàng nghìn năm [4].
Theo ước tính của WWF, có khoảng từ 35.000 loài (trong tổng số 250.000 loài cây) được sử dụng vào mục đích chữa bệnh trên toàn thế giới [8]. Trong đó, riêng Trung Quốc đã công bố tới hơn 10.000 loài [1, 9, 10]; Ấn Độ có khoảng 6.000 loài [11, 12, 13]; Vùng nhiệt đới châu Mỹ có hơn 1.900 loài; ngoài ra ở một số nước châu Phi, như Zaire, Kenia…cũng có hàng trăm loài cây thuốc được sử dụng rộng rãi. Bên cạnh đó, theo báo cáo của WHO, có khoảng 80% dân số ở các nước đang phát triển có nhu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu phụ thuộc vào nền YHCT. Trong đó, phần lớn các thuốc được sử dụng có nguồn gốc từ cây cỏ [9].
Tuy vậy, việc khai thác quá mức và thiếu quy hoạch các nguồn tài nguyên thiên nhiên của con người đã dẫn đến sự báo động về hiện tượng thu hẹp đáng kể ĐDSH. Theo tư liệu của IUCN, trong số 43.000 loài thực vật mà tổ chức này đã thống kê, có tới 30.000 loài được xếp vào diện bị đe dọa, trong đó có nhiều loài làm thuốc [8, 12]. Tại Trung Quốc, một số loài trước kia có khả năng khai thác như Củ nâu (Dioscorea spp. nay lại đứng trước nguy cơ bị đe dọa.
Ở Bangladesh, một số cây thuốc quý như Dây mỏ quạ (Tylophora indica), Lục lặc bò (Zannia indica)…trước kia rất dễ tìm nay trở nên hiếm. Hoặc như với loài Ba gạc hoa đỏ (Rauvolfia serpentina), vốn mọc tự nhiên khá phổ biến ở Ấn Độ, Srilanca, Thái Lan. có thể khai thác mỗi năm được khoảng 1000 tấn nguyên liệu, làm thuốc điều trị huyết áp, hiện nay cũng đã cạn kiệt do khai thác liên tục trong nhiều năm [5, 14]. Một số loài như Hoàng liên (Coptis chinensis và C.
teeta) đã từng khai thác trong tự nhiên ở Trung Quốc và Ấn Độ, ngày nay đã trở nên rất hiếm và phải đưa vào trồng trọt [5]. Điều này chứng tỏ việc lưu trữ, nuôi trồng, bảo tồn và khai thác hợp lý các loài cây thuốc có giá trị là hết sức quan trọng và cấp thiết. Hiện nay, do nhu cầu thị trường, một số loài cây dược liệu đã được triển khai trồng để từng bước chủ động nguồn nguyên liệu phục vụ nhu cầu trong nước và xuất 3 khẩu. Điển hình là đối với một số loài Sâm mọc tự nhiên, do giá trị sử dụng và giá trị kinh tế cao nên đã thúc đẩy nhu cầu khai thác sử dụng ngày càng tăng.
Để đáp ứng nhu cầu này, người ta đã chủ động trồng các loài Sâm. Trong đó, Nhân sâm (Panax ginseng) được trồng nhiều ở Trung Quốc, Hàn Quốc và Triều Tiên; Tam thất (P. notoginseng) được trồng nhiều ở Trung Quốc. Hay là đối với loài Sa nhân tím (Amonum longigulare) vốn được khai thác tự nhiên, nhưng với giá trị sử dụng và kinh tế của loài này nhiều nước đã triển khai trồng và cho kết quả tốt như Trung Quốc, Lào… [13, 15] Như vậy, có thể nói rằng tùy thuộc vào nguồn tài nguyên cây thuốc và nhu cầu của mỗi quốc gia mà mỗi một nước hay một địa phương sẽ có chương trình, kế hoạch khai thác và trồng những loài cây dược liệu có tiềm năng khác nhau để tạo nguồn nguyên liệu làm thuốc, phục vụ cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu.
Tổng quan về nghiên cứu tài nguyên cây thuốc ở Việt Nam 1. Nguồn tài nguyên cây thuốc trên cả nước Việt Nam có nguồn tài nguyên thực vật rất phong phú và đa dạng các loài cây sống trong điều kiện sinh thái khác nhau, hình thành các kiểu thảm thực vật khác nhau. Nhiều loài có giá trị làm thuốc và nhiều loài hiện nay là nguyên liệu chính để tinh chế sản xuất các loại thuốc có giá trị. Theo thống kê tính đến 2005, ở Việt Nam đã ghi nhận 10.340 loài thực vật, thuộc 2.256 chi, 305 họ, khoảng 800 loài Rêu, 200 loài Nấm, 200 loài Tảo, trong đó có nhiều loài làm thuốc [16].
Hàng năm, hàng chục loài thực vật mới được công bố phát hiện tại Việt Nam, vì vậy đến nay số lượng loài thực vật và cây thuốc ghi nhận đã tăng lên đáng kể. Bên cạnh đó, dựa vào kết quả điều tra từ năm 1961 đến nay, Viện Dược liệu đã xuất bản Danh lục cây thuốc Việt Nam (2016), trong đó đã ghi nhận 5117 loài và dưới loài thực vật được sử dụng làm thuốc, thuộc 1.823 chi, 360 họ của 8 ngành Thực vật bậc cao có mạch, cùng với một số taxon thuộc nhóm Rêu, Tảo và Nấm lớn…Với trên 5000 loài cây thuốc và vốn tri thức bản địa sẽ là một kho tàng vô giá để triển khai các nghiên cứu nhằm tạo ra các sản phẩm từ dược liệu phục vụ công tác chăm sóc sức khỏe và phát triển kinh tế xã hội [17]. Việt Nam được xếp hạng thứ 16 trên thế giới về sự đa dạng tài nguyên sinh vật và là một trong 10 trung tâm ĐDSH phong phú nhất thế giới, trong đó có nhiều loài cây thuốc. Từ năm 2010 đến nay, nhiều đơn vị và địa phương trên cả nước đã triển khai điều tra và tái điều tra đánh giá hiện trạng nguồn tài nguyên cây thuốc ở 35 tỉnh thuộc 7 vùng trên cả nước: [18-24] 4 + Vùng Tây Bắc: Lai Châu (450 loài), Điện Biên (562 loài), Sơn La (535 loài).
+ Vùng Đông Bắc: Bắc Kạn (415 loài), Lào Cai (549 loài), Yên Bái (510 loài), Tuyên Quang (682 loài), VQG Tam Đảo - Vĩnh Phúc (375 loài), Hà Giang (1. + Vùng Bắc Trung Bộ: Thanh Hoá (714 loài), Nghệ An (962 loài), VQG Vũ Quang - Hà Tĩnh (429 loài), VQG Bạch Mã - Thừa Thiên Huế (548 loài). + Vùng Nam Trung Bộ: Quảng Nam (832 loài), Quảng Ngãi (625 loài), Đà Nẵng (1.117 loài), Ninh Thuận (1. + Vùng Tây Nguyên: Đắk Lắk (725 loài), Gia Lai (841 loài), Kon Tum (841 loài), Lâm Đồng (1247 loài), Đắk Nông (910 loài).
+ Vùng Đông Nam Bộ: Đồng Nai (1.086 loài), Bình Dương (691 loài), Bà Rịa – Vũng Tàu (479 loài), Bù Gia Mập - Bình Phước (266 loài), Lò Gò – Xa Mát – Tây Ninh (433 loài), Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ - TP. Hồ Chí Minh (162 loài). + Vùng Tây Nam Bộ: An Giang (1.083 loài), Cà Mau (229 loài), Kiên Giang (1. Hiện nay, công tác đánh giá nguồn tài nguyên đang được tiếp tục thực hiện ở nhiều địa phương trên cả nước: Bắc Giang, Vĩnh Phúc,.
Từ xa xưa đến nay có rất nhiều công trình của các nhà khoa học quan tâm đến các loài cây thuốc và vị thuốc để chữa trị các loại bệnh như: Sách “ Cây thuốc Việt Nam” của lương y Lê Trần Đức có ghi lại 830 loài sử dụng làm thuốc; Tác giả Võ Văn Chi có cuốn “ Từ điển cây thuốc Việt Nam” ghi nhận 3.200 loài trong đó có cả các loài cây thuốc nhập nội… [25, 26]. Năm 1957, Gs Đỗ Tất Lợi có “ Dược liệu học và các vị thuốc Việt Nam” gồm 3 tập. Đến năm 1961, tác giả đã tái in thành 2 tập, trong đó mô tả và nêu công dụng của 100 cây thuốc nam. Từ năm 1962-1965, cuốn “ Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” được xuất bản thành 6 tập.
Đến năm 1969 tái bản thành 2 tập, trong đó giới thiệu hơn 500 vị thuốc có nguồn gốc thảo mộc, động vật và khoáng vật. Trong lần tái bản thứ 12 vào 2006 tác giả đã nâng lên 800 loài, các loài đều được mô tả tỉ mỉ tên khoa học, phân bố, công dụng, thành phần hóa học và chia thành các nhóm bệnh khác nhau[27, 28]. Năm 1976, Gs Vũ Văn Chuyên “Tóm tắt đặc điểm các họ cây thuốc”, trong đó ngoài việc tóm tắt đặc điểm các họ cây thuốc, ông còn đưa ra danh sách các cây 5 thông thường thuộc các họ, giúp dễ học và dễ phân loại thực vật, thuận lợi cho việc tra cứu [29]. Năm 1976, trong công trình luận văn phó tiến sĩ khoa học, Võ Văn Chi đã thống kê được ở Miền Bắc có 1.360 loài cây thuốc thuộc 192 họ trong ngành thực vật hạt kín.
Đến năm 1991, trong báo cáo tham gia hội thảo quốc gia về cây thuốc lần thứ II tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh, tác giả đã giới thiệu một danh sách các loài cây thuốc Việt Nam có 2.280 loài cây thuốc bậc cao có mạch, thuộc 254 họ trong 8 ngành [30]. Năm 1980, Đỗ Huy Bích và Bùi Xuân Chương trong cuốn “Sổ tay cây thuốc Việt Nam” đã giới thiệu 519 loài cây thuốc trong đó có 150 loài mới phát hiện vào nguồn tài nguyên cây thuốc Việt Nam. Năm 1997, Võ Văn Chi trong bộ “Từ điển cây thuốc Việt Nam”, tác giả đã thống kê và mô tả chi tiết 3.200 loài cây thuốc ở Việt Nam. Đây là một công trình có ý nghĩa khoa học và thực tiễn rất lớn phục vụ cho ngành dược và chuyên ngành thực vật học.
Năm 2003-2004, “Từ điển thực vật thông dụng” (2 tập) tác giả đề cập đến phần công dụng mà chủ yếu là làm thuốc của 5.382 chi của 333 họ thực vật [26, 31,32]. Năm 2001, Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự trong công trình “Thực vật học dân tộc - Cây thuốc của đồng bào Thái Con Cuông Nghệ An” đã thống kê được 551 loài, 364 chi, 120 họ thực vật có giá trị làm thuốc, đặc biệt là trong nghiên cứu này nhóm tác giả đã đưa ra công dụng cụ thể của từng loài theo cách sử dụng của người dân địa phương [33]. Năm 2006, trong cuốn “Cây có vị thuốc ở Việt Nam” Phạm Hoàng Hộ đã thống kê được 2.000 loài có giá trị làm thuốc, ở đây tác giả chỉ mô tả sơ lược đặc điểm nhận dạng và giá trị sử dụng của chúng [34].