PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Phát triển bền vững (PTBV) là một trong những nhiệm vụ quan trọng mang tính cấp thiết đối với nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ. Ở nước ta, cùng với quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, tài nguyên thiên nhiên được sử dụng ngày càng đa dạng với quy mô ngày càng lớn. Điều kiện phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi còn gặp nhiều khó khăn nên gây cản trở cho việc phát triển bền vững.
Một trong những nguyên tắc để tránh làm suy thoái và cạn kiệt tài nguyên đó là việc khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên luôn phải đảm bảo dựa trên sự phù hợp với quy luật địa sinh thái lãnh thổ, nếu không sẽ gây ảnh hưởng xấu tới xu thế phát triển kinh tế xã hội và trực tiếp chi phối đến đời sống cộng đồng. Để duy trì sự phát triển, việc sử dụng hợp lý và hiệu quả các nguồn tài nguyên hiện là một trong những yếu tố hết sức cần thiết. Nhiều bài học kinh nghiệm được rút ra từ các địa phương trong cả nước cho thấy nếu khai thác tài nguyên không hợp lý, không chú ý tới các quy luật tự nhiên thì sẽ không những làm cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên mà còn gây ảnh hưởng tới môi trường và có những hậu quả xấu cho chính bản thân con người, đi ngược lại với mục tiêu phát triển bền vững. Vì vậy, việc nghiên cứu, phân tích, đánh giá cảnh quan của một khu vực nhằm mục đích phát triển các ngành kinh tế là nhiệm vụ quan trọng và có ý nghĩa to lớn.
Trong những năm gần đây, để giải quyết những vấn đề thực tế mang tính tổng hợp cao, hướng nghiên cứu cảnh quan, đánh giá cảnh quan đã trở thành hướng nghiên cứu quan trọng, đáp ứng được nhiều vấn đề thực tế đặt ra và là cơ sở khoa học của việc lựa chọn các mục tiêu sử dụng thích hợp lãnh thổ. Dựa vào kết quả nghiên cứu, đánh giá đặc điểm các thành phần tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên; phân tích tính đa dạng của cảnh quan trên cơ sở làm rõ cấu trúc, chức năng và động lực phát triển cảnh quan có xem xét đến yếu tố nhân tác là những cơ sở khoa học đầy đủ và đáng tin cậy để hoạch định phát triển kinh tế cho các vùng lãnh thổ khác nhau, đặc biệt là ở các vùng lãnh thổ cấp huyện. Chợ Mới là một huyện nằm ở phía cửa ngõ phía nam của tỉnh Bắc Kạn, có tổng diện tích tự nhiên khoảng 603 km2, gồm 14 đơn vị hành chính (13 xã và 01 thị 1 trấn) [26, 29]. Huyện có vị trí địa lý tương đối thuận lợi vì có quốc lộ 3 chạy qua giữa huyện và giáp với phía bắc của tỉnh Thái Nguyên, một trong những tỉnh có ngành công nghiệp tiên tiến của cả nước, là đầu tàu phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội của cả vùng Trung du miền núi phía Bắc.
Không chỉ vậy, Chợ Mới cũng là huyện có nhiều điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội thuận lợi để phát triển công nông nghiệp so với các huyện khác trong tỉnh Bắc Kạn. Trong những năm qua, huyện đã đạt một số thành tựu như kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao và ổn định, tỷ lệ hộ đói nghèo giảm một cách đáng kể, góp phần ổn định an ninh chính trị, an toàn xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, so với các huyện khác trong cả nước Chợ Mới hiện nay vẫn là một huyện nghèo, sự phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, đặc biệt là những thế mạnh của huyện về tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lí, nguồn lao động,…chưa được khai thác, sử dụng một cách hiệu quả. Xuất phát từ những vấn đề và yêu cầu thực tiễn nêu trên, cùng với mong muốn góp phần giúp địa phương phát triển theo hướng bền vững, nhất là trong lĩnh vực nông - lâm nghiệp, tác giả đã lựa chọn đề tài nghiên cứu “Nghiên cứu, đánh giá cảnh quan huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn cho mục đích phát triển nông - lâm nghiệp bền vững” để làm luận văn Thạc sĩ của mình.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2. Mục tiêu nghiên cứu Đề tài được thực hiện nhằm nghiên cứu về tiềm năng và thực trạng điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên dưới dạng phân chia và phân tích các đơn vị cảnh quan lãnh thổ huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn. Trên cơ sở đó tiến hành đánh giá và định hướng cảnh quan cho phát triển nông, lâm nghiệp bền vững huyện Chợ Mới. Nhiệm vụ nghiên cứu Để đạt được mục tiêu trên, tác giả thực hiện những nhiệm vụ sau: - Nghiên cứu một số vấn đề lí luận và phương pháp nghiên cứu, đánh giá cảnh quan cho định hướng phát triển nông lâm nghiệp bền vững huyện Chợ Mới.
- Phân tích đặc điểm các nhân tố thành tạo cảnh quan lãnh thổ huyện Chợ Mới. - Xây dựng hệ thống phân loại cảnh quan và bản đồ cảnh quan huyện Chợ Mới. - Phân tích đặc điểm các đơn vị cảnh quan và đánh giá cảnh quan cho mục đích phát triển nông lâm nghiệp bền vững huyện Chợ Mới trên cơ sở xây dựng chỉ tiêu đánh giá. 2 - Đề xuất một số định hướng và các giải pháp phát triển nông lâm nghiệp nhằm sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và phát triển bền vững huyện Chợ Mới.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các đơn vị cảnh quan huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn. Phạm vi nghiên cứu * Về nội dung Đề tài tập trung nghiên cứu, phân tích các đơn vị cảnh quan huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn. Xác định mức độ thích hợp của các đơn vị cảnh quan đối với mục đích phát triển bền vững ngành nông lâm nghiệp.
Trên cơ sở đó đề xuất các định hướng và giải pháp sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường trong lĩnh vực nông lâm của huyện Chợ Mới. * Về không gian Huyện Chợ Mới là huyện nằm ở phía nam tỉnh Bắc Kạn. Phía đông giáp huyện Na Rì và huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. Phía tây giáp huyện Chợ Đồn và huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.
Phía nam giáp huyện Phú Lương và huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. Phía bắc giáp huyện Bạch Thông và thành phố Bắc Kạn. Huyện Chợ Mới gồm 13 xã và 1 thị trấn: Xã Hòa Mục, Cao Kỳ, Nông Hạ, Thanh Thịnh, Thanh Mai, Thanh Vận, Như Cố, Mai Lạp, Yên Hân, Yên Cư, Quảng Chu, Bình Văn, Tân Sơn và thị trấn Đồng Tâm [26, 29,35]. Lịch sử nghiên cứu đề tài 4.
Trên thế giới Cùng với sự phát triển của khoa học địa lí, các công trình nghiên cứu địa lí tự nhiên tổng hợp trên thế giới có từ lâu đời. Từ cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 được coi là giai đoạn đặt nền móng cho sự hình thành khái niệm cảnh quan, với nhiều công trình nghiên cứu về cảnh quan của các tác giả thuộc nhiều trường phái khác nhau từ trường phái Nga (Liên Xô cũ) và các nước Đông Âu đến trường phái nghiên cứu cảnh quan của Tây Âu và Bắc Mĩ. Mỗi trường phái đều có những đặc trưng nghiên cứu riêng, với nhiều công trình khoa học có giá trị cao, là kim chỉ nam cho các thế hệ nhà khoa học kế tiếp. 3 Đối với lĩnh vực nghiên cứu cảnh quan và phân tích, đánh giá cảnh quan để phục vụ cho mục đích phát triển kinh tế - xã hội phải nói đến là những công trình của các nhà cảnh quan học Nga và một số nước thuộc Liên Xô trước đây.
Berg đã đưa khái niệm cảnh quan vào trong khoa học địa lí và ông cho rằng chính cảnh quan là đối tượng nghiên cứu của khoa học địa lí. Berg công bố tác phẩm “Các đới cảnh quan địa lí Liên Xô” (tập 1) - công trình nổi tiếng là cơ sở để hoàn thiện lí luận cảnh quan. Năm 1963, Annhenxkaia và những tác giả khác đã trình bày rõ về cách phân chia các đơn vị cảnh quan trong tuyển tập “Cảnh quan học”. Milkov vào năm 1967 đã đề cập đến các tổng thể thiên nhiên trên Trái Đất với tên gọi là các “tổng thể cộng sinh” mà sau đó D.
Armand gọi là “địa hệ” trong công trình “Khoa học về cảnh quan” (1975). “Khoa học về cảnh quan” là một loạt tiểu luận về các đề tài lí thuyết và phương pháp được sắp xếp theo một trình tự logic rõ ràng. Một nhà cảnh quan tiêu biểu khác của Nga là A. Isachenko với nhiều công trình có giá trị.
Năm 1961, ông đã hoàn thành công trình “Bản đồ cảnh quan Liên Xô, tỉ lệ 1/4.000 và vấn đề phương pháp nghiên cứu cảnh quan”. Năm 1969, ông cho ra đời tác phẩm “Cơ sở cảnh quan học và phân vùng địa lí tự nhiên”, trong đó ông đã trình bày những cơ sở lí thuyết và các nguyên tắc cơ bản trong phân vùng địa lí tự nhiên, 5 năm sau (1974), ông cùng với A. Shliapnikov công bố công trình “Về những nội dung của bản đồ cảnh quan địa lí”. Năm 1976, ông tiếp tục xuất bản cuốn “Cảnh quan học ứng dụng” - công trình thể hiện tầm nhìn và khả năng nắm bắt thực tiễn rất nhạy bén của ông khi đưa quan điểm ứng dụng vào cảnh quan học.
Những năm sau, một loạt các công trình về cảnh quan ứng dụng cũng được hoàn thành như: “Nghiên cứu đánh giá cảnh quan cho các sơ đồ quy hoạch vùng” (E. Dorphman - 1980); “Phương pháp đánh giá cảnh quan sinh thái nhằm mục đích phát triển tối ưu lãnh thổ” (M. Ở Tây Âu và Bắc Mĩ, các nghiên cứu quan tâm nhiều đến việc ứng dụng nghiên cứu cảnh quan cho việc bảo vệ và quy hoạch các vườn quốc gia (VQG), các khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN), quy hoạch du lịch, đô thị và môi trường,. Hướng nghiên cứu này đã được G.
Bertrand sử dụng để xây dựng phương 4 pháp phân kiểu cảnh quan ở Pháp. Mỗi kiểu cảnh quan tương ứng với một kiểu thích nghi của thảm thực vật tự nhiên hay nhân tác và được đúc kết thành một triết lí trong công trình của Tricarst và Kilian (1979): “Cơ sở cho quy hoạch, giải quyết mối quan hệ giữa địa mạo động lực và phát sinh thổ nhưỡng”. Ở Mĩ, nghiên cứu cảnh quan ứng dụng lại chú trọng nhiều đến sự thay đổi cấu trúc, chức năng, động lực của các đơn vị cảnh quan để tìm ra biện pháp sử dụng, bảo vệ chúng đạt hiệu quả tốt nhất. Tiêu biểu có công trình của Brown W.L (2011) nghiên cứu về sự thay đổi cảnh quan trong nông nghiệp ở ba thị trấn của tiểu bang Iowa - Mĩ; Jinki Kim, Christopher D.