Chương 1 TÔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Trên thé giới 1. Khái niệm về dự án Có thể nói dự án là một quá trình gồm các công tác, nhiệm vụ có liên quan với nhau được thực hiện nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra trong đi kiện ring buộc về thời gian, nguồn lực và ngân sách. Trong lý thuyết cũng.
như thực tiễn quản lý kinh tế hiện nay còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về dự án. Mỗi quan điểm về dự án xuất phát từ cách tiếp cận khác nhau tuỳ. thuộc mục đích nghiên cứu, Dưới đây là một số quan niệm điển hình về dự án trên thé giới và ở nước ta ‘Theo WB [7]: Dự án là tổng thể những chính sách, hoạt động và chỉ phí liên quan với nhau được thiết kế nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong một khoảng thời gian nhất định. Tir điển xã hội học của của David Jary va Julia Jury [14], đưa ra định nghĩa về dự án như sau: Những kế hoạch của địa phương được thiết lập với mục đích hỗ trợ các hành động công đồng và phát triển công đồng.
Theo định nghĩa nảy có thể hiểu dự án là một kế hoạch can thiệp có mục tiêu, nội dung, thời gian, nhân lực và tài chính cụ thé. Dự án là sự hợptác của các lực lượng xả hội bên ngoài và bên trong cộng đồng. Với cách hiểu như trên thi thước do sự thành công của dự án không chỉ là việc hoàn thành các hoạt động có tính kỹ thuật (đầu tư cái gì, cho ai, bao nhiêu, như thé nao) mà nó có góp phan gi vào quá trình chuyển biến xã hội tại cộng đồng. Đánh giá dự ân "Đánh giá là một công việc thường xuyên diễn ra trong các hoạt động, của dự án.
Đó la một khâu then chốt trong một chu trình dự an, nhằm đưa ra những nhận xét theo định kỳ về kết quả thực hiện các hoạt động của dự án trên cơ sở so sánh một số chỉ tiêu đã lập trước, hay nói khác đánh giá là quá trình xem xét một cách hệ thống và khách quan nhằm cố gắng xác định tính phủ hợp. tính hiệu quả và tác động của các hoạt động ứng với mục tiêu đã vạch ra. Trong các dự án mà ở đó vai trd tham gia của các bên liền quan có ý nghĩa đặc biệt quan trọng thì công tác đánh giá đồi hỏi phải có sự tham gia của các bên liên quan. Đánh giá có sự tham gia lä một hệ thống phân tích được thực hiện bởi các nhà quản lý dự án và các thành viên được hưởng lợi từ dự án, cho phép họ điều chỉnh, xác định lại chính sách hoặc mục tiêu, chiến lược, sắp xếp.
lại các tổ chức các đơn vị triển khai lại các nguồn lực nếu cần thiết. Nó là cơ hội cho cả người bên trong và người bên ngoài cộng đồng dừng lại phản ánh về “quá khứ và dua ra quyết định cho tương lai Các lý thuyết về hướng dẫn và đánh giá được đề cập chỉ tiết trong các công trình nghiên cứu của WHO, Gittinger, Dixon & Hufschmidt L.Therse Barker, Jim Woodhill, FAO, WB.[18] Đối với một dự án, đánh giá là xem xét một cách hệ thống để xác định tính hiệu quả, mức độ1 inh công của dự án, tác động xã hội cũng như các tác động kinh tế môi trường đối với cộng đồng hưởng thụ [6] “Trong một dự án, hoạt động đánh giá là khâu cuối cùng trong tiến trình triển khai dự án cho cộng đồng. Thực ra đánh giá không chỉ tiền hành một lần vào cuối dự án - đó mới chi là đánh giá tổng thể. Trong qué trình thực hiện dự án, hoạt động đánh giá có thé được tiến hành vào những giai đoạn quan trong, thường gọi là đánh giá giai đoạn.
Nhiều tác giả cho rằng, điều quan trong là phải tiến hành đánh giá có sự tham gia của các bên có liên quan mà quan trọng, nhất là người hưởng lợi từ dự án [17] Một s tức giả và các tổ chức trên thé gi như: Jim Woodhill, Robins, Joachim Theis, Heather. Grady [14] đã phân chia thành hai loại đánh giá: Dinh giá mục tiêu va đánh giá tiến trình. Đánh giá mục tiêu là xem xét liệu dự án có đạt được mục tiêu đã định hay không, nó tập trung vào việc phân tích các chỉ s đo đạc hiệu quả thu được. Đánh giá tiến trình, mở rộng diện đánh giá hơn so với loại đánh giá trên, sử dụng tri thức và hiểu biết của nhiều người để xem xét nhiều vấn đề của dự án.
Các phương pháp đánh giá dự án cũng được phát triển mạnh mẽ từ những năm 50, 60 của thé ky trước, khi các dự án phát triển cộng đồng ra đời. Các phương pháp bao gồm: Phương pháp người din tham gia đánh giá (PRA), phương pháp phỏng van, phương pháp nội suy. Các khía cạnh đánh giá tác động của dự ám Trên thể giới, việc đánh giá các tác động kinh tế, xã hội, môi trường. của dự án hay một hoạt động sản xuất kinh doanh nào đó đã có lịch sử hàng trăm năm được chia kim hai giai đoạn.
(Giai đoạn 1: Từ đầu những năm 1960 đến cudi những năm 1970 với đặc trưng của giai đoạn này là những nghiên cứu xung quanh những vin dé về. chất lượng môi trường mâu thuẫn với sự tăng trưởng kinh tế. Ban đầu là những nghiên cứu về vấn dé đảm bảo an toàn lương thực, đồng thời bảo vệ được môi trường sinh thái thông qua vi hạn chế nạn phá rừng. Nhiều công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của các phương thức sử dụng đất, các hoạt động canh tác đến dat đai vả môi trường đã được công bé như: Nghiên.
cứu của Freizendaling (1968) về “Tac động của con người đến sinh quyền”; Gober (Pháp, 1968) về “Dit va việc giữ độ phi của đất - các nhân tố ảnh hưởng. đến sử dụng đất". Tổ chức nông nghiệp và lương thực của Liên hợp quốc (FAO) trong nhiều năm nghiên cứu vấn dé canh tác trên đất dốc đã đưa ra các mô hình canh tác có hiệu quả như SALT 1, SALT 2, SALT 3, SALT 4. Đến đầu những năm 1970, Quốc hội Hoa Kỳ đã ban hành luật chính sách quốc gia về môi trường, thường gọi tắt là NEPA.
Trong những năm 1970 va 1980, ở một số nước đang phát triển như Thái Lan, Singapo, Philippine, Indonesia. đã ban hành những quy định về đánh giá tác động môi trường [7] ‘Nam 1972, Liên hiệp quốc đã tổ chức hội nghị môi trường của con người với mục đích là tìm hướng giải quyết những tác động không mong muốn mà cuộc cách mạng khoa học va kỹ thuật gây ra đối với môi trường sống. Các tổ chức UNEP, UNDP, WB đã công bố *Tuyên bố về các chính sách và thủ tục về môi trường” nói lên quan điềm phải kết hợp giữa phát triển kinh tế - xã hội với việc bảo vệ môi trường và quy định trong các dự án phát triển do các cơ quan này viện trợ hoặc cho vay vốn phải báo cáo đánh giá tác động môi trường (Lê Thạc Cán, 1994) [4] Năm 1979, tổ chức FAO đã xuất bản tai liệu “Phân tích các dự án lâm nghiệp” do Hans M-Gregersen và Amoldo H. Contresal biên soạn.
Đây là tài liệu giảng dạy dùng cho các địa phương mà tổ chức FAO có đầu tư dự án trồng. rừng và phát triển lâm nghiệp; tài liệu này tương đổi day đủ và phủ hợp với điều. kiện đánh giá hiệu qua các dự án lâm nghiệp ở các nước đang phát triển. Giai đoạn 2: Từ đầu những năm 1980 đến nay, với đặc trưng của giai đoạn này là phát trién bền vũng, trong dé đã thể hiện được sự bổ sung hỗ trợ lẫn nhau giữa phát triển kinh tế va bảo vệ môi trường, Ban báo cáo "Tương lai chung của chúng ta” của Ủy ban Brundtland (1987) đã công nhận đánh giá tác động môi trường lả một cấu thảnh thiết yếu trong quá trình thúc dy phát triển bền vững.
Báo cáo cũng đã vạch ra sự tham gia nhiều hơn của cộng đồng vào các quyết định có ảnh hưởng đến môi trường, tạo điều kiện cho các cộng đồng sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên địa phương, Tại Hội nghị quốc tế về môi trường năm 1992, ở Rio de Janeiro (Braxin) đã đi đến tiếng nói chung là: “Phải kết hợp hai hoa giữa bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế - xã hội, hướng tới một sự phát triển bền vững. trong phạm vi từng nước trên thé giới” [9]. Nam 1994, Walfredo Raqual Rola đã đưa ra một m6 phỏng về tác động của các phương thức canh tác [13]. Theo mô phỏng này hiệu quả của một phương thức canh tác được đánh giá theo quan điểm tổng hợp, trên cả 3 mặt kinh tế, xã hội và sinh thái môi trưởng.
Tắt cả các tác động đó đều nhằm mục tiêu cuối cùng là phát triển toàn diện kinh té - xã hội vả bảo vệ môi trường sinh thái 1. Khái niệm về dự ám Hòa cùng với xu hướng chung của thé giới. (am cũng đã sớm hình thành và triển khai nhiều hoạt động của những dự án trên toàn bộ các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Chính vì thể ma việc nhận thức và đưa.
ra những khái niệm về dự án tương đổi sớm như; Trong tác phẩm phát triển cộng đồng của mình Nguyễn Thị Oanh [15] đưa ra hai định nghĩa về dự ấn như sau: ~ Dự án là sự can thiệp một cách có kế hoạch nhằm đạt được một hay một số mục tiêu cùng hoàn thành những chỉ báo thực hiện đã định trước tại một địa bàn và trong một khoảng thời gian nhất định, có huy động sự tham gia thực sự của những tác nhân va tổ chức cụ thể. ~ Dự án là một tổng thể có kế hoạch những hoạt động (công việc) nhằm. đạt một số mục tiêu cụ thể trong một khoảng thời gian và trong khuôn khổ chỉ phí nhất định. Theo Tô Duy Hợp và Lương Hồng Quang [6].
dự án được hiểu như: một kế hoạch can thiệp để giúp cộng đồng dân cư hoặc cá nhân cải thiện kiện sống trên một địa bản nhất định. Hội thảo PIMES về chương trình phòng ngửa thảm họa đã đưa ra hai khái niệm về dự án ~ Dự án là một quá trình gồm các hoạt động đã được lập kế hoạch nhằm. đạt được những thay đổi mong muốn hoặc đạt được một mục tiêu cụ thé nào đó. ~ Dự án là một quá trình phát triển có kế hoạch, được thiết kế nhằm đạt .được mục tiêu cụ thé với khoán kinh phí xác định trong một thời gian nhất định.