Chương 1. Những vấn đề chung về các tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà chủ thể là người trong các cơ quan tiến hành tố tụng Chương 2. Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự đối với các tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà chủ thể là người trong các cơ quan tiến hành tố tụng Chương 3. Những đề xuất, kiến nghị nâng cao hiệu quả đấu tranh với các tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà chủ thể là người trong các cơ quan tiến hành tố tụng 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM HOẠT ĐỘNG TƢ PHÁP MÀ CHỦ THỂ LÀ NGƢỜI TRONG CÁC CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG 1.
Những khái niệm có liên quan 1. Khái niệm cơ quan tư pháp Quyền tư pháp cùng với quyền lập pháp và quyền hành pháp hợp thành quyền lực nhà nước thống nhất của một quốc gia. Cơ quan tư pháp, với những đặc trưng riêng của quyền tư pháp, được tổ chức và hoạt động theo các nguyên tắc do Hiến pháp và pháp luật quy định. Trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật hiện nay của nhà nước ta không nêu rõ và đặt tên cơ quan tư pháp là cơ quan nào.
Tuy nhiên, Hiến pháp năm 1946 có một chương có tên Cơ quan tư pháp, trong đó, Tòa án được coi là cơ quan tư pháp: Cơ quan tư pháp của Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa gồm có: Tòa án tối cao; Các tòa án phúc thẩm; Các tòa án đệ nhị cấp và sơ cấp (Điều 63). Hiến pháp 1959 cụm từ cơ quan tư pháp không được sử dụng trong các văn bản pháp luật của Nhà nước. Từ Hiến pháp năm 1992 đến nay, cụm từ quyền tư pháp và cơ quan tư pháp được sử dụng nhiều trong các văn bản chính trị, pháp luật; Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) có một điều khoản đề cập đến quyền tư pháp trong nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước “Quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” (Điều 2) và một điều khoản đề cập đến hoạt động tư pháp khi quy định Viện kiểm sát thực hiện chức năng công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Trong Hiến pháp cũng như các văn bản pháp luật, không văn bản nào xác định rõ ràng, thống nhất cơ 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quan thực hiện quyền tư pháp là những cơ quan nào; hoạt động tư pháp gồm những hoạt động gì; Trong Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (Năm 2002) cũng không có điều khoản nào làm rõ khái niệm hoạt động tư pháp, kiểm sát hoạt động tư pháp mà chỉ dùng phương pháp liệt kê một số nhiệm vụ của kiểm sát hoạt động điều tra, hoạt động xét xử, hoạt động thi hành án.
Như vậy, các Hiến pháp những năm tiếp theo như Hiến pháp 1959, 1980, 1992 và Hiến pháp 2013 không có tên chương nào đặt cho cơ quan tư pháp mà chỉ quy định chương có tên Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân. Ví dụ, Điều 126 Hiến pháp năm 1992 quy định: Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong phạm vi chức năng của mình, có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân. Hiến pháp năm 2013 không có điều luật chung quy định về Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, nhưng có các điều luật riêng xác định chức năng của các cơ quan này. Tại Điều 102 Hiến pháp năm 2013 quy định: Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp.
Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Điều 107 Hiến pháp 2013 quy định: Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp. Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Như vậy, tuy không nêu rõ, nhưng Tòa án nhân dân và Viện Kiểm sát nhân dân được gọi là các cơ quan tư pháp.
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong thực tế, tại các văn kiện của Đảng về đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung hay Nghị quyết về công tác tư pháp nói riêng, cụm từ cơ quan tư pháp được sử dụng nhiều, nhưng cũng không có văn bản nào xác định một cách thống nhất, rõ ràng cơ quan tư pháp gồm những cơ quan nào. Ở mỗi thời điểm khác nhau, thuật ngữ cơ quan tư pháp được xác định và thể hiện trong các văn bản cũng khác nhau. Nghị quyết số 08- NQ/TW, ngày 02-01-2002 của Bộ Chính trị “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”, khi đề cập đến việc nâng cao chất lượng hoạt động và đề cao trách nhiệm của các cơ quan và cán bộ tư pháp đã xác định các cơ quan sau: Cơ quan điều tra; Cơ quan công tố (các viện kiểm sát nhân dân); Cơ quan xét xử (các tòa án); Cơ quan thi hành án (hình sự, dân sự); Cảnh sát tư pháp; Các cơ quan, tổ chức bổ trợ tư pháp (các tổ chức luật sư, công chứng, giám định tư pháp. Hoặc trong Nghị quyết số 49-NQ/TW, ngày 02-6-2005 về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”, khi đề cập đến việc xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và hoàn thiện tổ chức, bộ máy của các cơ quan tư pháp đã nêu các cơ quan: Tòa án nhân dân; Viện kiểm sát nhân dân; Cơ quan điều tra; Cơ quan thi hành án.
Ngoài ra, Nghị quyết số 49-NQ/TW còn nhấn mạnh, cần hoàn thiện các chế định về bổ trợ tư pháp (luật sư, giám định, cảnh sát hỗ trợ tư pháp, công chứng). Có thể thấy, thuật ngữ các cơ quan tư pháp ở nước ta hiện nay chưa được hiểu và sử dụng một cách thống nhất trong các văn bản của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Thuật ngữ này thường được hiểu theo nghĩa rộng là ngoài Tòa án và Viện kiểm sát, còn có các cơ quan thuộc hệ thống hành pháp (Cơ quan điều tra, cơ quan thi hành án, cơ quan công chứng…), thậm chí gồm cả các tổ chức xã hội nghề nghiệp (như Luật sư), tức là những tổ chức nằm ngoài hệ thống quyền lực Nhà nước [14]. Một điểm cần lưu ý khi tìm hiểu thuật ngữ các cơ quan tư pháp được 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dùng với ý nghĩa, phạm vi như trên, chúng ta cần phân biệt thuật ngữ này với thuật ngữ các cơ quan của “ngành tư pháp” thuộc hệ thống hành pháp (gồm Bộ Tư pháp, các Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp, Ban Tư pháp).
Mặc dù các cơ quan này đều có cụm từ “Tư pháp” gắn sau tên cơ quan, nhưng thực chất, các cơ quan này không trực tiếp thực hiện các hoạt động tư pháp. Theo chức năng, nhiệm vụ được giao, các cơ quan này là cơ quan quản lý Nhà nước đối với một số tổ chức và hoạt động tư pháp (thi hành án dân sự, luật sư, công chứng, giám định tư pháp. Ngoài ra, trong lĩnh vực xây dựng pháp luật, Bộ Tư pháp được giao chủ trì xây dựng một số văn bản luật liên quan trực tiếp đến hoạt động tư pháp (như Bộ luật hình sự, Bộ luật dân sự, Luật thi hành án, Luật luật sư.), là thành viên tham gia và thẩm định tất cả các văn bản pháp luật làm cơ sở pháp lý cho tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp. Điều này đặt ra cần hiểu đúng thế nào là cơ quan tư pháp.
Theo lý luận nhà nước và pháp luật, bộ máy quyền lực nhà nước của các quốc gia trên thế giới nói chung gồm có các cơ quan chủ yếu là: Cơ quan lập pháp (Quốc hội), Cơ quan hành pháp (Chính phủ) và Cơ quan tư pháp (Tòa án). Các cơ quan này độc lập với nhau để kiềm chế sự lạm quyền của mỗi cơ quan. Tuy nhiên, do đặc điểm của nước ta, ngoài những điểm chung như các quốc gia khác trên thế giới còn có những đặc điểm riêng. Các cơ quan quyền lực của nhà nước ta có Cơ quan lập pháp là Quốc hội, Cơ quan hành pháp là Chính phủ, bộ máy chính quyền địa phương và Cơ quan tư pháp thì ngoài Tòa án còn có Viện Kiểm sát.
Quan điểm của Đảng và nhà nước ta là các cơ quan này như Điều 2 Hiến pháp 2013 khẳng định: Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Cho nên việc phân chia quyền lực nhà nước giữa các cơ quan nhà nước mang tính chất tương đối. Tất cả các hoạt động của các cơ quan này đặt dưới sự lãnh đạo của 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đảng Cộng sản Việt Nam như Điều 4 Hiến pháp năm 2013 quy định: Đảng Cộng sản Việt nam là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội. Như vậy, có thể hiểu các cơ quan tư pháp tại Việt Nam là Cơ quan Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân những cơ quan thực hiện chức năng công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp và xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hành chính theo quy định của pháp luật có liên quan.
Khái niệm hoạt động tư pháp Trên thế giới, nói đến hoạt động tư pháp là nói đến hoạt động xét xử của toà án cũng như nói đến cơ quan tư pháp là nói đến cơ quan toà án; nói đến tư pháp là nói đến một lĩnh vực hoạt động có tính độc lập rất cao trong mối quan hệ với lập pháp và hành pháp. Tuy nhiên, nói như thế không có nghĩa là lĩnh vực tư pháp độc lập một cách tuyệt đối với các lĩnh vực lập pháp và hành pháp.