Chương 1: Tông quan nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và kiến nghị CHUONG 2: CO SO LY LUAN VE CAC NHAN TO ANH HUONG DEN SU HAI LONG CUA KHACH HANG KHI MUA SAM TRUC TUYEN TAI SHOPEE VA MO HINH NGHIEN r CUU 2. Các khái niệm liên quan 2. Thương mại điện tử Theo Tổ chức thương mại Thế giới WTO, thương mại điệ n tử bao gồm việ c sản xuất, tiếp thị, phân phối sản phâm được mua bán và thanh toán trên mạng internet, nhưng được g1ao nhận một cách hữu hình, cả các sản phẩm giao nhận cũng như những thông tin số hóa thông qua mang internet Theo Ủy ban Thương mại điện tử của Tổ chức hợp tác kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương thì thương mại điện tử Theo Tổ chức thương mại Thế giới W TO, thương mại điện tử ba o gồm liên quan đến các giao dịch thương mại trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa các nhóm (cá nhân) mang tính điện tử chủ yếu thông qua các hệ thống có nên tang dura trén internet. Sự hài lòng Theo Philip Kotler (1997), sự hài lòng của người tiêu dùng là kết quả của những trải nghiệm trong suốt quá trình mua s 4m, bao g6m các bước cụ thể: Nhận thức nhu cầu; tìm kiếm thông tin; đánh 914 phương án lựa chọn; ra quyết định mua và hành vi sau khi mua sắm, tiêu dùng.
Vì vậy, nó bao quát tất cả các phản ứng mà người mua có thê thể hiện, cũng như những giai đoạn khác nhau trong quá trình mua săm. Theo Oliver (1997) cho rang su hai long la su phản ứng của người tiêu dùng với việc được đáp ứng những mong muốn. Theo Lin & Sun (2009), sự hài lòng là một chỉ số đo lường sự trải nghiệm liên quan tới đánh giá của khách hàng về việc mua sắm trong quá khứ và những trải nghiệm mua sắm của họ. Theo Võ Khánh Toản (2008), hài lòng của khách hàng là sự đánh giá, cảm giác của khách hàng về một sản phâm hay dịch vụ đã đáp Theo Philip Kotler (2000) dinh nghia sw hai long là mức độ của trạng thái cảm giác con người bắt nguồn từ việc so sánh kết quả thu được từ việc tiêu đùng sản phẩm với những kỳ vọng của người đó.
Mức độ hài lòng phụ thuộc sự khác biệt piữa kết quả nhận được và kỳ vọng. Mua sắm trực tuyến Theo nghiên cứu của (Lí & Zang, 2002), hành vi mua sắm trực tuyến (còn được gọi là hành vi mua hàng qua mạng, hành vi mua sắm qua Internet) là quá trình mua sản phâm dịch vụ qua Internet.com: Mua săm trực tuyến là hoạt động mua sắm sản phâm hay dịch vụ qua mạng Internet. Theo định nghĩa trong nghiên cứu của Monsuwe et al (2004) thì mua sắm trực tuyên là hành vi của người tiêu dùng trong việc mua sắm thông qua các cửa hàng trên mạng Internet hoặc website sử dụng các giao dịch mua sắm trực tuyến. Theo Bui Thanh Trang (2014) mua săm online là một quá trình mà khách hàng mua trực tiếp hàng hóa hoặc dịch vụ từ một npười bán trong một thời ø1an xác thực thông qua internet, không qua dịch vụ trung gian, nó là một dạng của thương mại điện tử.
Mua sắm trực tuyến mang lại lợi ích cho cả người mua và người bán về phương diện tìm kiếm khách hàng, thông tin sản phâm, quá trình tương tác và phân phối sản phâm. Người mua có thể mua hàng ở bất cứ đâu, bắt kế thời gian nào, ngay cả khi ở nhà và đễ dàng tiếp cận các nhà cung cấp. Người mua cũng không cần phải rời khỏi nhà để mua hàng hay nhận hàng và có thê theo dõi được việc giao nhận hàng hóa Nghiên cứu này sẽ tiếp cận mua sắm trực tuyến theo quan điểm mua sắm trực tuyến chính là một dạng thương mại và điện tử cho phép người tiêu dùng trực tiếp mua sản phẩm hoặc dịch vụ từ người bán qua internet có sử dụng trình duyệt. Người tiêu dùng (NTD) tim thay san phẩm mà mình quan tâm bằng cách trực tiếp truy cập trang web của người bán hoặc các nhà sản xuất hoặc sử dụng công cụ tìm kiếm mua sắm hiển thị sự sẵn có và giá của sản phẩm tương tự tại c ác nhà bán lẻ điện tử khác nhau.
Chất lượng dịch vụ Theo Lewis va Mitchell (1990), Dotchin va Oakland (1994), Asubonteng va cong su (1996), Wisniewski va Donnelly (1996) chat lugng dich vy la sy khac biét gitta mong doi cua khach hang vé dich vụ và cảm nhận về dịch vụ Theo Gronross “A service quality model and its marketing implications” vao nam 1984 cho rang chat lượng dịch vụ là kết quả của một quả trình đánh giá khi khách hàng dựa trên so sánh dịch vụ thực sự mà khách hàng đã nhận được với s ự mong đợi của họ. Đồng quan điểm với Gronross, Parasuraman và cộng sự (1985) đã nhận định c hất lượng dịch vụ là một hình thức của thái độ, là kết quả từ sự so sanh gitra dịch vụ thực tế mà khá ch hàng nhận thức được khi tiêu dùng dịch vụ với sự mong đợi của họ. Sự bảo mật/riêng tư thông tin khách hàng Theo Lee & Turban trong "A trust model for consumer internet shopping.” vao nam 2001 da nhan định rang tính bảo mật được cho là yếu tố quan trọng trong các giao dịch tài chính. Nhiều người mua hàng trực tuyến e sợ thông tin cá nhân của mình sẽ bị lạm dụng.
Hơn nữa, mua hàng trực tuyến tuyên c ũng chứa đựng nhiều rủi ro, người mua hàng đôi khi không thể kiểm tra được chất lượng san pham, không giám sát được sự an toàn và đảm bảo các thông tin cá nhân va thông tin tải chính khi mua hàng trực tuyến. Theo Zeithaml và cộng sự (2002) cho rằng tính bảo mật là thước đo quan trọng đối với các dịch vụ bán lẻ hàng qua mạng. Đồng quan điểm, Vijayasarathy và Jones (2000) cũng cho rằng nếu tính baaor mật cao sẽ làm tăng xu hướng sử dụng dịch vụ mua hàng qua mạng. Thanh toán trực tuyến Theo báo cáo quốc gia về kĩ thuật Thương mại điện tử của Bộ thương mại thì thanh toán điện là việc thanh toán tiền thông qua các thông điệp điện tử thay cho việc trao tiền mặt.
Ngoài ra, tha nh toán điện tử còn được hiểu theo nghĩa hẹp là việc trả tiền và nhận tiền hàng cho các hàng hóa và dịch vụ được mua bán thông qua Internet. Thiết kế Website Theo Loiacono và cộng sự vào năm 2000, thành phần thiết kế Website bao gồm: Bố trí nội dung, cập nhật nội dung và sử dụng dễ dàng. Đồng thời Wolñnbarger và Gilly vào năm 2001 cũng đã nhậ n xét thông tin có sẵn trên Website là một trong những đặc điểm quan trọng để doanh nghiệp dễ đàng bán hàng trực tuyến. Khách hàng mua hàng trực tuyên sẽ nhận thức được lợi ích của việc nhậ n thông tin trực tiếp từ Website mà không cần tham vấn người bán hàng.
Từ đó khách hàng sẽ giảm được chi phí tìm kiếm thông tin, đặc biệt là thông tin liên quan đến sản phâm. Nếu Website bán hàng trực tuyến nào có nhiều thông tin và được sắp xếp hợp lý thì sẽ dễ hấp dẫn khách hàng đến để mua hàng trực tuyến. Do vậy, trong việc thiết kế Website bán hàng trực tuyến, Phát triển Kinh tế 287 (09/2014)| 125 doanh nghiệp cần cung cấp đây đủ thông tin để khách hàng có thể so sánh sản phâm với Website của những trang thương điện tử khác, điều này sẽ làm cho ho hai long hon trong việc sử dụng Website này. Tổng quan các công trình nghiên cứu 2.
Nghiên cứu nước ngoài Hiện nay trên thế giới đã có hơn khoảng 8000 nghiên cứu, bài luận, bài báo lớn nhó liên quan đến vấn đề hành vi người tiêu dùng, hành vi mua hàng trên các trang web mua sắm trực tuyến. Trong đó phải kế đến những nghiên cứu chất lượng của : See Siew Sin, Khalil Md Nor va Meen M Al-Agaga (2012), Yi Jin Lima va c6ng sy (2012), Hemming va Loh (2011), X1 Hu, Qiang Huang va cong sy (2016).Sau day nhóm nghiên c ứu xin trình bày tóm tắt kết quả các công trình trên làm tiên đề cho các bước tiếp theo của nghiên cứu: Đầu tiên, nhóm tác giả Hemming và Loh (201 1) trong nghiên cứu “Ảnh hưởng của niề m tin, bản sắc xã hội, rủi ro cảm nhận va truyền miệng trực tuyến đến tiến trình ra quyết định mua trên mạng xã hội” đã dựa trên tài liệu liên quan đến mô hình kết hợp TAM và TPB (C— TAM - TPB) xây dựng mô hình kiếm tra mức độ tác động các nhân tố trong đề tài. Kết quả từ nghiên cứu: “Ý định mua ảnh hưởng trực tiếp đến hanh vi mua thực tế ”, “ Truyền miệng trực tiếp ảnh hưởng tích cực để n niềm tin đến niềm tin vào các trang”, “Rui ro cam nhận ảnh hưởng tiêu cực đê n niềm tin”, “Niễm tin ảnh hưởng tích cực đên 10 ý định mua”. Hơn nữa, kết quả phân tích không cho thấy mối liê n hệ gitra ban sắc và niềm tin, rủi ro cảm nhận va ý định mua.
Ngoài ra, các kết quả thực nghiệm cho thấy bản sắc xã hội trong các trang web mạng xã hội không giống với c ác cộng đồng ảo khác và rủ ro c ảm nhận không ảnh hưởng đến ý định mua. C ủng thời điểm vảo năm 2011 Momtaz H. và cộng s ự đã cho rằng kinh nephiệm mua sắm trước đây là yêu tổ ảnh hưởng nhiều nhất đến sự hải lòng của khách hàng; tiếp đến là chất lượng sản phẩm và cuối cùng là thương hiệu và quảng cáo. Đồng thời, trone nghiên cứu “Những nhân tố tác động tới quyết định mua hàng trên các trang web bán hàng trực tuyến của giới trẻ Malaysia” cua See Siew Sin, Khalil Md Nor va Ameem M AI- Agaga (2012), tác giả sử dụng mô hình chấp nhận công nghệ và lý thuyết hành động hợp lý để phân tích quyết định mua hàng của khách hàng voi mau là 297 sinh viên đang theo học ở các trường đại học ở Malaysia.
Nghiên cứu chỉ ra 3 nhân tố ảnh hưởng la: Tinh dé st dụng cảm nhận, hữu ích cảm nhận và c huấn chủ quan. Kết quả cho thay loi ích cảm nhận là yêu tố ảnh hướng nhất tới quyết định mua hàng của giới trẻ Malaysia trên các trang web trực tuyến, tiếp đến là tinh dé str dụng c ảm nhận và chuẩn chủ quan. Thời điểm nay, Chiris A.