CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC, TỔNG QUAN VỀ SỰ HÀI LÒNG VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG ĐỐI VỚI DỊCH VỤ INTERNET CÁP QUANG 1. Một số vấn đề về dịch vụ và khách hàng 1. Khái niệm về khách hàng Có nhiều khái niệm khác nhau về khách hàng. Liên quan đến vấn đề nghiên cứu, chúng ta quan tâm đến hai quan điểm về khách hàng: Theo Philip Kotler (2003): khách hàng đó là những người mua sắm sản phẩm dịch vụ của bạn.
Vậy khách hàng được hiểu là người có nhu cầu và mong muốn về một sản phẩm hay dịch vụ. Việc mua của họ có thể xảy ra nhưng không có nghĩa mua là chính họ sẽ sử dụng hoặc trực tiếp sử dụng sản phẩm dịch vụ đó. Theo nhà kinh tế học Clifford J.Shultz (2005): khách hàng là những người bạn có quan hệ giao dịch kinh doanh. Theo đó, khách hàng là thị trường của doanh nghiệp, đồng thời khách hàng lại là một trong những lực lượng - yếu tố quan trọng nhất chi phối mang tính quyết định tới các hoạt động marketing của doanh nghiệp.
Đặc biệt hơn nữa, đối với dịch vụ viễn thông, khách hàng là đối tượng tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất và hoàn thiện sản phẩm dịch vụ. Hành vi tiêu dùng theo lý thuyết hữu dụng Hữu dụng (utility) được hiểu là "giá trị" hay "sự thỏa mãn" người tiêu dùng đạt được từ việc tiêu dùng một số lượng hàng hóa, dịch vụ nhất định. Hữu dụng có thể được hiểu như là số tiền người tiêu dùng có thể trả cho sự thỏa mãn mà hàng hóa, dịch vụ mang lại hoặc hài lòng đi cùng với những sự lựa chọn thay thế. Các nhà kinh tế cho rằng khi các cá nhân đối mặt với một sự lựa chọn những hàng hoá thay thế khả dĩ, họ luôn lựa chọn hàng hoá thay thế mang lại mức hữu dụng (utility) lớn nhất.
Hữu dụng toàn bộ đi cùng một hàng hoá là mức thoả mãn có được từ việc tiêu dùng hàng hoá đó. Hữu dụng cận biên là một cách tính hữu dụng bổ sung nhận được khi tiêu dùng thêm một đơn vị hàng hoá. Trong kinh tế, hữu dụng biên là một thước đo giá trị hay sự thỏa mãn người tiêu dùng đạt được từ việc tiêu dùng một sản phẩm nào đó. Theo nguyên tắc chung, hữu dụng cận biên bằng sự thay đổi trong tổng hữu dụng chia cho 8 lượng hàng hóa được tiêu dùng.
Hữu dụng cận biên thường được hiểu là mức hữu dụng một người sẽ nhận được từ mỗi đơn vị hàng hóa được tiêu dùng thêm Tổng hữu dụng là toàn bộ sự thỏa mãn thu được khi tiêu dùng các hàng hóa và dịch vụ (tính trong thời gian nhất định).Tổng hữu dụng chỉ là khái niệm của hữu dụng được áp dụng cho nhiều hơn một đơn vị hàng hóa. Nếu tiêu dùng một đơn vị hàng hóa đem lại cho bạn mức hữu dụng nhất định, tiêu dùng nhiều hơn một có thể đem lại cho bạn mức hữu dụng cao hơn, thấp hơn hoặc tương đương Qui luật hữu dụng biên giảm dần: Quy luật lợi ích cận biên giảm dần là khái niệm nói rằng khi người tiêu dùng tiêu dùng một lượng hàng hóa hay dịch vụ càng lớn thì ích lợi hay mức thỏa mãn thu được từ mỗi đơn vị tăng thêm sẽ giảm với tốc độ ngày càng nhanh. Sản phẩm dịch vụ 1. Khái quát về sản phẩm dịch vụ Sản phẩm (product) là bất cứ cái gì có thể đưa vào thị trường để tạo sự chú ý, mua sắm, sử dụng hay tiêu dùng nhằm thỏa mãn một nhu cầu hay ước muốn.
Nó có thể là những vật thể, dịch vụ, con người, địa điểm, tổ chức và ý tưởng… Có nhiều cách định nghĩa và phân loại, tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu này, sản phẩm dịch vụ được hiểu là những hoạt động có ích của con người tạo ra các sản phẩm không tồn tại dưới hình thái vật chất, không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu nhằm thỏa mãn đầy đủ, kịp thời, thuận tiện, văn minh các nhu cầu của sản xuất và của đời sống xã hội. Các đặc tính của sản phẩm dịch vụ: - Tính vô hình: Người tiêu dùng không cảm nhận được dịch vụ thông qua các giác quan thông thường mà chỉ có thể cảm nhận, đánh giá thông qua sự thực thi, trải nghiệm. Cho nên dịch vụ rất khó để cảm nhận và đánh giá. - Không đồng nhất: gần như không thể cung ứng dịch vụ hoàn toàn giống nhau.
- Tính không tách rời được: Cung ứng và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời. Quá trình cung ứng dịch vụ cũng là quá trình tiêu thụ dịch vụ. - Tính không ổn định: Chất lượng dịch vụ rất khó đánh giá vì phụ thuộc vào nhiều yếu tố: người cung ứng, khách hàng, thời gian, địa điểm cung ứng dịch vụ. - Tính không lưu giữ được: Dịch vụ không thể cất giữ trong kho, làm phần đệm điều chỉnh sự thay đổi nhu cầu thị trường.
9 - Dễ hỏng: dịch vụ không thể tồn kho. Không thể kiểm tra chất lượng trước khi cung ứng, người cung ứng chỉ có thể làm đúng từ đầu và làm đúng mọi lúc. - Không thể hoàn trả: nếu khách hàng không hài lòng họ có thể được hoàn tiền nhưng không thể hoàn trả dịch vụ. - Nhu cầu bất định: độ bất định nhu cầu dịch vụ cao hơn sản phẩm hữu hình.
- Quan hệ con người: quan hệ con người trong dịch vụ rất cao và thường được khách hàng thẩm định khi đánh giá dịch vụ. - Tính cá nhân: khách hàng đánh giá dịch vụ dựa vào cảm nhận cá nhân của mình rất nhiều. - Tâm lý: chất lượng dịch vụ được đánh giá theo trạng thái tâm lý của khách hàng.2 Chất lượng dịch vụ Nếu như chất lượng hàng hóa có thể đo được bằng các chỉ tiêu rõ ràng trong sản xuất thì chất lượng dịch vụ rất khó nhận biết. Một dịch vụ chỉ đạt chất lượng tốt nhất khi khách hàng cảm nhận rõ ràng là việc thực hiện những hứa hẹn của doanh nghiệp mang đến giá trị gia tăng nhiều hơn các doanh nghiệp khác hoạt động trong cùng lĩnh vực và thỏa mãn ngang hoặc trên sự kỳ vọng, mong đợi của khách hàng về dịch vụ đó.
Mô hình chất lượng chức năng và chất lượng kỹ thuật Gronroos Sơ đồ 1.1: Mô hình chất lượng dịch vụ của Gronroos 10 Để nghiên cứu cảm nhận của khách hàng về chất lượng dịch vụ, Gronroos (1984) đã giới thiệu mô hình chất lượng dịch vụ dựa trên 03 điểm thiết yếu: Thứ nhất, phân biệt chất lượng chức năng với chất lượng kỹ thuật. Chất lượng chức năng chính là quá trình tương tác giữa khách hàng và người cung ứng dịch vụ, nghĩa là làm thế nào dịch vụ được thể hiện và cung ứng. Chất lượng kỹ thuật là hệ quả của quá trình vận hành hoạt động dịch vụ, có nghĩa là những gì mà khách hàng nhận được. Thứ hai, hình ảnh có tầm quan trọng tột bậc đối với tất cả các hãng cung ứng dịch vụ bởi vì khách hàng có thể thấy được hình ảnh và nguồn lực của hãng trong quá trình giao dịch mua bán.
Thứ ba, cảm nhận toàn bộ về chất lượng là một hàm của những cảm nhận đánh giá của khách hàng về dịch vụ và sự khác biệt giữa những đánh giá này với những mong đợi về dịch vụ của họ. Mô hình 5 khoảng cách chất lượng dịch vụ: KHÁCH HÀNG NHÀ CUNG CẤP DỊCH VỤ KC về Nhận thức của nhà KC về thông tin cung cấp về kỳ vọng tiêu chuẩn của thị trường của khách hàng dịch vụ Kỳ vọng về dịch vụ của khách hàng Tiêu chuẩn về dịch KC 1 vụ của nhà cung cấp KC 2 KC KC về chất lượng KC 5 thực hiện dịch vụ KC 3 dịch vụ KC 4 Sự thực hiện dịch vụ Nhận thức về dịch của nhà cung cấp vụ của khách hàng Thông tin của nhà cung cấp dịch KC về vụ đến khách hàng thông tin Sơ đồ 1.2: Sơ đồ mô hình năm khoảng cách chất lượng dịch vụ Nguồn: Parasuraman và cộng sự (1985) 11 - Khoảng cách thứ nhất (khoảng cách về thông tin thị trường): xuất hiện khi có sự khác biệt giữa sự kỳ vọng của khách hàng về dịch vụ sẽ nhận được và nhận thức của nhà cung cấp về kỳ vọng của khách hàng. Điểm cơ bản của sự khác biệt này là do nhà cung cấp dịch vụ chưa đánh giá được hết các đặc điểm về chất lượng dịch vụ của mình cũng như cách thức làm thoả mãn nhu cầu của khách hàng. - Khoảng cách thứ hai (khoảng cách về tiêu chuẩn của dịch vụ): xuất hiện khi doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc chuyển đổi nhận thức của mình về kỳ vọng của khách hàng thành tiêu chuẩn, đặc tính cụ thể của chất lượng dịch vụ.
Khoảng cách này nảy sinh trong quá trình thực hiện các mục tiêu của chất lượng dịch vụ. - Khoảng cách thứ ba (khoảng cách về thực hiện dịch vụ): xuất hiện trong quá trình chuyển giao các tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ để đáp ứng kỳ vọng của khách hàng qua quá trình cung cấp dịch vụ. Nguyên nhân phát sinh khoảng cách này là do nhân viên, phương tiện cũng như điều kiện phục vụ đã không chuyển giao được dịch vụ cho khách hàng theo những tiêu chí đã được xác định. - Khoảng cách thứ tư (khoảng cách về thông tin): là khoảng cách giữa chất lượng dịch vụ thực tế và sự kỳ vọng của khách hàng dưới tác động của thông tin tuyên truyền bên ngoài như quảng cáo, chiêu thị mà công ty đã thực hiện trước đó.
- Khoảng cách thứ năm (khoảng cách chất lượng dịch vụ): xuất hiện khi có sự khác biệt giữa chất lượng kỳ vọng của khách hàng và chất lượng họ cảm nhận thực sự khi sử dụng dịch vụ. Chất lượng dịch vụ chính là hàm số của khoảng cách thứ 5 này vì nó xác định được mức độ thoả mãn của khách hàng khi họ nhận biết được mức độ khác biệt giữa dịch vụ kỳ vọng và dịch vụ nhận được. Khoảng cách thứ 5 này phụ thuộc vào các khoảng cách trước đó (khoảng cách 1, 2, 3, 4), vì thế để rút ngắn khoảng cách này (hay làm tăng chất lượng dịch vụ) thì cần phải nỗ lực rút ngắn các khoảng cách trước. Mô hình chất lượng dịch vụ được biểu diễn bởi hàm số: CLDV = F{KC5 = f(KC1, KC2, KC3, KC4)} Trong đó: - CLDV: chất lượng dịch vụ - KC1, KC2, KC3, KC4, KC5: khoảng cách thứ 1, 2, 3, 4, 5.
Mô hình chất lượng dịch vụ của Prasuraman & CTG (1985) cho ta bức tranh tổng thể về chất lượng dịch vụ.