Chương 1 TONG QUAN 1. Tống quan tài liệu nghiên cứu 1. Các nghiên cứu trong nước Nguyễn Minh Tân, Nguyễn Thị Ngọc Anh và Huỳnh Thanh Nhã (2023) đã thực hiện nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên về chất lượng đảo tạo tại trường Đại học Kỹ thuật - Công nghệ Cần Thơ. Nghiên cứu dựa trên nền tảng mô hình chất lượng dịch vu dao tao đại học (HEdPERF) của Abdullah (2006).
Dữ liệu nghiên cứu dựa trên ý kiến khảo sát từ 245 sinh viên, phương pháp kiểm định độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám pha (EFA) và hồi quy bội được sử dung dé phân tích số liệu. Kết quả phân tích thống kê mô tả cho thấy sinh viên khá hài lòng với chất lượng đào tạo của trường. Bên cạnh đó, kết quả mô hình hồi quy đã xác định được 07 nhân tổ anh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên về chất lượng đào tạo bao gồm: Cơ sở vật chất và thiết bị, Danh tiếng, Uy tín nhà trường, Chất lượng giảng viên, Tổ chức đào tạo, Hoạt động ngoại khóa, Chương trình đào tạo. Trong đó, nhân tố cơ sở vật chất và thiết bị tác động mạnh nhất đến sự hài lòng về chất lượng đào tạo của trường.
Kết quả của nghiên cứu là cần thiết và có ý nghĩa làm cơ sở khoa học đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của sinh viên và xã hội trong bối cảnh cuộc CMCN 4.0 đang diễn ra. Nguyễn Duy Cường (2022) đã tiến hành đo lường chất lượng dịch vu dao tạo và sự hài lòng của sinh viên Trường Đại học Văn Hiến. Trên cơ sở tổng quan các nghiên cứu về thang đo chất lượng dịch vụ, nghiên cứu này đã lựa chọn thang đo HEdPERF của Abdullah (2006) dé đo lường chat lượng đào tạo và sự hài lòng của sinh viên thông qua khảo sát 292 sinh viên vừa tốt nghiệp đại học chính quy trường Đại học Văn Hiến. Các phương pháp thống kê mô tả, kiểm định Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích tương quan và phân tích hồi quy tuyến tinh được sử dụng trong nghiên cứu.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, các nhân tố anh hưởng đến sự hai lòng của sinh viên là nhân tố “học thuật” và “sự tin cậy, đồng cảm”, nhân tố phi học thuật, chương trình đào tạo và cơ sở vật chất không có ý nghĩa thống kê trong mô hình. Trong đó, khía cạnh sự tin cậy, đồng cảm là nhân tố có mức độ ảnh hưởng mạnh nhất đến sự hài lòng của sinh viên. Hoàng Thanh Huyền và Trần Thị Thái Hà (2019) đã thực hiện khảo sát mức độ hài lòng của sinh viên về chất lượng đào tạo chuyên ngành kế toán - kiểm toán tại Học viện Ngân hàng. Nghiên cứu dựa trên nền tảng mô hình chất lượng dịch vụ (SERVQUAL) của Parasuraman và cộng sự (1988) nhưng có sự điều chỉnh, thay đổi tên nhân tô.
Số liệu sử dụng trong nghiên cứu được thu thập từ 275 sinh viên Khóa 18, 19 chuyên ngành Kế toán - Kiểm toán, theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên. Mô hình xử lý dữ liệu EFA được sử dụng nhằm xác định các nhóm nhân tố thuộc về chất lượng đào tạo ảnh hưởng tới sự hài lòng của sinh viên. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có 05 nhân tố thuộc chất lượng đào tạo ảnh hưởng tới sự hài lòng của sinh viên, lần lượt là: Chương trình dao tạo, Giảng viên, Cơ sở vật chất, Khả năng phục vụ của cán bộ nhân viên, Học phí. Trong đó, ảnh hưởng mạnh nhất là nhân tố chương trình đào tạo.
Dựa trên kết quả nghiên cứu, các tác giả đã đề xuất những kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng tốt hơn những nhu cầu và sự mong đợi của sinh viên, từng bước khẳng định thương hiệu của nhà trường. Nguyễn Thị Lan Anh (2019) đã thực hiện bài nghiên cứu thông qua một cuộc khảo sát lớn với 285 sinh viên khóa 11 và khóa 12 để tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của sinh viên về chất lượng đào tạo chuyên ngành kế toán, kiểm toán tại Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội. Mô hình chất lượng dịch vụ của SERVPERE của Cronin va Taylor (1992) được áp dụng để làm nền tảng. Tác giả lựa chọn phương pháp đánh giá độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach’s alpha, phân tích nhân tố khám pha (EFA) dé kiểm định sự phù hợp của mô hình.
Sau đó tác giả sử dụng phương pháp phân tích hồi quy tuyến tính Linear Regression dé đánh giá mối tương quan của các thành phan chất lượng đào tạo với sự hài lòng của sinh viên. Số liệu được xử lý và phân tích bằng phần mềm SPSS 20. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có 05 nhân tố thuộc chất lượng dao tạo ảnh hưởng tới sự hai lòng cua sinh viên, lần lượt là: Chương trình đào tạo, Khả năng phục vụ; Giảng viên; Học phí; Cơ sở vật chất. Như vậy, dé nang cao chat lượng dao tạo và đáp ứng ngày càng tốt hơn các nhu cầu của sinh viên, Khoa kế toán, kiểm toán của Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội cần chú trọng đến việc nâng cao chất lượng dịch vụ tại trường.
Tran Thi Thùy Trang và cộng sự (2018) đã tiến hành khảo sát 164 sinh viên đại học để nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng về chất lượng dịch vụ dao tạo kế toán tại một số cơ sở trên địa bàn Thành phố Hà Nội. Nghiên cứu dựa trên nền tảng mô hình chất lượng dịch vụ (SERVQUAL) của Parasuraman và cộng sự (1988) và có sự điều chỉnh. Các phương pháp phân tích được sử dụng trong nghiên cứu là thống kê mô tả, kiểm định Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá (EFA). Từ đó kết quả nghiên cứu chỉ ra 06 yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên về chất lượng dịch vụ đào tạo là: Chương trình đào tạo, Khả năng phục vụ, Hoạt động ngoại khóa, Năng lực giảng viên, Cơ sở vật chất, Sự tận tâm.
Dé nâng cao sự hài lòng của sinh viên sau đại học, đề tài đã đề xuất giải pháp giúp cho các cơ sở đào tạo trên địa bàn Hà Nội nâng cao chất lượng dịch vụ dé gop phan thu hút sinh viên trong bối cảnh hội nhập. Các nghiên cứu ngoài nước Al-Rafai và các cộng sự (2016) nghiên cứu đề tài đo lường sự hài lòng của sinh viên đối với các hoạt động nâng cao năng lực từ sinh viên chuyên ngành kinh doanh của trường Dai hoc Kuwait. Nghiên cứu dựa trên nền tảng mô hình chất lượng dịch vu đào tao đại học (HEdPERF) của Abdullah (2006). Công trình nghiên cứu sự hài lòng với 42 biến và được thực hiện khảo sát trên 550 sinh viên với 5 nhân tố: (1) Chất lượng học thuật, (2) Sự trợ giúp của giảng viên, (3) Phòng LAB và trang thiết bị, (4) Quy trình đăng ký học, (5) Các chương trình trao đổi, huấn luyện.
Kết quả khảo sát đã cho thấy sự hài lòng của sinh viên cụ thể như sau: 22% sinh viên hài lòng về chất lượng học thuật trong Nhà trường, 16% sinh viên hai lòng về lực lượng giảng viên, 35% sinh viên hài lòng về các chương trình trao đổi, huấn luyện, 4% sinh viên hài lòng về phòng LAB cũng như trang thiết bị và 3% sinh viên hài lòng về quy trình đăng ký học. Vasiliki và các cộng sự (2015) đã có công trình nghiên cứu đo lường chất lượng dịch vụ đào tạo của sinh viên tại Trường đại học quốc gia Hy Lạp. Mô hình chất lượng dịch vụ dao tao dai học (HEdPERF) của Abdullah (2006) được chọn làm nền tảng. Nghiên cứu được thực hiện bằng phiếu khảo sát 469 sinh viên với 5 nhân tố: (1) Góc độ học thuật, (2) Các phương tiện, (3) Chương trình đào tao, (4) Nhân viên, (5), Dịch vụ hỗ trợ.
Nghiên cứu sử dụng các phương pháp kiểm định hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA) và mô hình hồi quy bội trong nghiên cứu dé xác định và đo lường các nhân tố. Kết quả phân tích cho thấy sự hài lòng chịu tác động từ cả 5 nhân tố đề xuất, trong đó nhân tố ảnh hưởng nhiều nhất từ Góc độ học thuật. Điều này cho thấy học viên đánh giá cao góc độ học thuật và các phương tiện phục vụ giáo dục trong nhà trường. Chuah và Ramalu (2011) đã khảo sát 100 sinh viên đại học tại một trong những trường đại học ở Malaisia để khám phá các yếu tô tác động đến sự hai lòng của sinh viên về chất lượng dich vụ dao tao của trường.
Các phương pháp phân tích được sử dụng trong nghiên cứu là thống kê mô tả, kiểm định Cronbach’s Alpha và phương pháp hồi quy tuyến tính. Kết quả kiểm định dựa trên lý thuyết chất lượng dich vụ (SERVQUAL) của Parasuraman và cộng sự (1988) chi ra rằng tổng thể các kích thước của chất lượng dịch vụ có liên quan đến sự hài lòng của sinh viên. Trong nghiên cứu nay, chỉ có ba yếu tố phù hợp cụ thé là: Kha năng đáp ứng, Sự dam bảo, Sự đồng cảm, trong đó sự đồng cảm có tác động mạnh nhất. Từ đó nghiên cứu cung cấp cơ hội cho nhà trường dé cải thiện những điểm yếu trong các dịch vụ cho sinh viên, đảm bảo chất lượng dịch vụ cung cấp cho sinh viên ở mức cao nhất và có được sự hài lòng tối ưu khi theo học tại các cơ sở giáo dục đại học cụ thể.
Diamantis và Benos (2007) tại trường Đại học Piraeus, Hy Lap đã có bai nghiên cứu về sự hai lòng của sinh viên với dé tài đánh giá sự hài lòng của sinh viên tại Khoa Quốc tế và Châu Âu học. Nhóm tác giả cho rằng sự hài lòng của sinh viên về khóa học rất quan trọng, và sự hai long nay phụ thuộc vào nhiều yếu tố như chương trình đào tạo, các môn học được giảng dạy, đội ngũ giảng viên, giáo trình, kinh nghiệm xã hội và kinh nghiệm trí tuệ mà cơ sở giáo dục cung cấp cho sinh viên. Để đánh giá sự hài lòng của sinh viên, tác giả sử dụng phương pháp đánh giá sự hải lòng khách hang MUSA (Multicriteria Satisfaction Analysis — phân tích sự hài long nhiéu tiéu chi) bao gom 4 tiêu chí: Giáo dục, Hỗ trợ hành chính, Hữu hình, Hình anh và danh tiếng của Khoa. Kết quả cho thay sự hai lòng của sinh viên khoa Quốc tế và Châu Âu học là 89,3%, cao hơn hắn so với 8 khoa khác trong trường đại hoc Piraeus.
Các tiêu chí sử dụng để đánh giá có sự hài lòng rất cao.