chương 1 tác giả trình bày khái quát về đề tài đang nghiên cứu, xác định lý do, tính cấp thiết để chọn đề tài, sơ lược mục tiêu nghiên cứu gồm mục tiêu chung, mục tiêu cụ thể và đặt câu hỏi nghiên cứu. Xác định phạm vi và đối tượng nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu và xây dựng bố cục của luận văn. 5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Khái niệm và đặc điểm dịch vụ a.
Khái niệm dịch vụ Dịch vụ trong kinh tế học được hiểu là những thứ tương tự như hàng hoá nhưng phi vật chất. Bản chất của dịch vụ là sự cung ứng để đáp ứng nhu cầu của khách hàng như: dịch vụ du lịch, thời trang, chăm sóc sức khoẻ.và mang lại lợi nhuận. Ngày nay chúng ta biết đến rất nhiều hoạt động trao đổi được gọi chung là dịch vụ và ngược lại dịch vụ bao gồm rất nhiều các loại hình hoạt động và nghiệp vụ trao đổi trong các lĩnh vực và ở cấp độ khác nhau. Có nhiều khái niệm, định nghĩa về dịch vụ nhưng trong nghiên cứu khoa học này, chúng tôi tham khảo một số khái niệm dịch vụ cơ bản như sau:.
- Theo Zeithaml & Britner (2000) “Dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa măn nhu cầu và mong đợi của khách hàng”. - Theo Philip Kotler (2001), “dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là sản phẩm không sờ thấy được và không dẫn đến sự chiếm đoạt một cái gì đó. Việc thực hiện dịch vụ có thể có và cũng có thể không liên quan đến hàng hoá dưới dạng vật chất”. Có nhiều khái niệm về dịch vụ được phát biểu dưới những góc độ khác nhau nhưng nhìn chung: Dịch vụ là một trong những quá trình hoạt động để giải quyết các mối quan hệ giữa người cung cấp các sản phẩm với khách hàng nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng mong đợi cũng như tạo ra giá trị sử dụng mong muốn cho khách hàng.
Đặc điểm dịch vụ Dịch vụ có những đặc điểm khác biệt so với những sản phẩm khác như vô hình, không đồng nhất, không thể tách rời, dễ hỏng, không thể hoàn trả, nhu cầu bất định, quan hệ qua con người, tính cả nhân và tính tâm lý như sau: 6 - Vô hình: đây là đặc điểm cơ bản của dịch vụ. Với đặc điểm này cho thấy dịch vụ là vô hình, không tồn tại dưới dạng vật thể. Tuy vậy sản phẩm dịch vụ vẫn mang nặng tính vật chất. Tính này của dịch vụ gây nhiều khó khăn cho quản lý hoạt động sản xuất cung cấp dịch vụ, khó khăn hơn cho marketing dịch vụ và cho việc nhận biết dịch vụ.
Với đặc điểm này thì khách hàng không thể nhìn thấy, cảm nhận hoặc tiếp xúc nếm, ngửi, nghe, trước khi mua nó. - Không đồng nhất: Dịch vụ rất khó thực hiện một cách đồng nhất và chính xác theo theo thời gian mà thường hay thay đổi. Đặc tính này của dịch vụ làm cho việc cung cấp dịch vụ không giống như là cung cấp các sản phẩm hữu hình khác. Trước hết do hoạt động cung ứng, các nhân viên cung cấp không thể tạo ra được các dịch vụ như nhau trong những thời gian làm việc khác nhau.
Sản phẩm dịch vụ có giá trị khác khi thỏa mãn nhu cầu sử dụng của khách hàng. Do vậy trong cung cấp dịch vụ thường thực hiện cá nhân hóa, thoát ly khỏi quy chế, điều đó càng làm tăng thêm mức độ khác biệt. - Không thể tách rời : Trong cung ứng dịch vụ thường được thực hiện cùng lúc với tiêu thụ nó. Do đó, nhà cung cấp khó dấu lỗi hay những khiếm khuyết của dịch vụ vì nó không có khoảng cách thời gian từ sản xuất đến tiêu thụ như sản phẩm hữu hình, sản phẩm dịch vụ gắn liền với hoạt động cung cấp dịch vụ.
Như vậy khi việc sản xuất cung cấp dịch vụ phải đi đôi với việc phải có nhu cầu của khách hàng, có nhu cầu thì quá trình sản xuất mới có thể tiến hành được. - Dễ hỏng: Khác với sản phẩm hữu hình, dịch vụ không thể tồn trữ để tiêu thụ lâu dài và không thể vận chuyển từ nơi này tới nơi khác. Do vậy việc sử dụng dịch vụ bị hạn chế bởi không gian và thời gian. Điều này làm cho dịch vụ khó kiểm tra trước khi cung cấp cho người tiêu dùng.
Do vậy, nhà cung cấp dịch vụ chỉ có một cách duy nhất là cung cấp đúng ngay từ lần đầu và mọi lúc đã cam kết. - Không thể hoàn trả: Dịch vụ không thể hoàn trả, trong nhiều ngành dịch vụ, nếu khách hàng không hài lòng, khách hàng có thể được hoàn trả lại tiền nhưng khách hàng không thể hoàn dịch vụ. 7 - Nhu cầu bất định: Các thuộc tính của dịch vụ kém chắc chắn hơn là sản phẩm hữu hình. Điều này dẫn tới dịch vụ khó đáp ứng nhu cầu hơn so với sản phẩm hữu hình.
- Quan hệ qua con người: Dịch vụ có khuynh hướng bị ảnh hưởng bởi quan hệ qua lại giữa người với người, hơn là sản phẩm hữu hình vì dịch vụ do con người thực hiện. - Tính cá nhân: Khách hàng thường đánh giá cung cấp dịch vụ dựa vào cảm nhận cá nhân của mình. - Tâm lý : Chất lượng dịch vụ được đánh giá theo trạng thái tâm lý của khách hàng. Khi đợi chờ nhận sản phẩm nào đó quá lâu, khách hàng thường có thái độ khó chịu, bực bội.
Tuy nhiên, nếu nhân viên phục vụ nhiệt tình vui vẻ, thì khách hàng vẫn vui lòng chờ đợi để nhận sản phẩm này. Dịch vụ công và chất lượng dịch vụ công a. Khái niệm về dịch vụ công Dịch vụ công là những hàng hoá, dịch vụ phục vụ trực tiếp nhu cầu của các tổ chức và công dân mà Chính phủ can thiệp vào việc cung cấp nhằm mục tiêu hiệu quả và công bằng, an sinh xã hội. Trong sách “Dịch vụ công và xã hội hoá dịch vụ công - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” (Chu Văn Thành chủ biên.
Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia. 2004) Dịch vụ công là: Những hoạt động của các tổ chức nhà nước hoặc của các doanh nghiệp, tổ chức xã hội, tư nhân được Nhà nước uỷ quyền để thực hiện nhiệm vụ do pháp luật quy định, phục vụ trực tiếp những nhu cầu thiết yếu của cộng đồng, công dân; theo nguyên tắc không vụ lợi; đảm bảo sự công bằng và ổn định xã hội”, và cho rằng dịch vụ công bao gồm: dịch vụ sự nghiệp công, dịch vụ công ích và dịch vụ hành chính công. Dịch vụ công ích: Là các hoạt động cung cấp các hàng hóa, dịch vụ cơ bản, thiết yếu cho người dân và cộng đồng như: Vệ sinh môi trường, xử lý rác thải, cấp nước sạch, vận tải công cộng đô thị, phòng chống thiên tai…chủ yếu do các doanh nghiệp nhà nước thực hiện. Đặc điểm của dịch vụ công Là những hoạt động phục vụ cho nhu cầu, lợi ích chung thiết yếu của đông đảo người dân.
Do các cơ quan công quyền hay những chủ thể (tổ chức, cá nhân) được Nhà nước uỷ quyền đứng ra thực hiện dưới sự giám sát của Nhà nước. Nhà nước luôn có trách nhiệm đảm bảo các dịch vụ hành chính công cho xã hội, khi nhà nước chuyển giao dịch vụ hành chính công cho tư nhân cung ứng thì Nhà nước vẫn giữ vai trò điều tiết, giám sát nhằm đảm bảo công bằng trong phân phối các dịch vụ công cho người dân thụ hưởng, khắc phục những khiếm khuyết của thị trường. Trách nhiệm ở đây thể hiện qua việc Nhà nước hoạch định chính sách, thể chế pháp luật, quy định tiêu chuẩn chất lượng, thanh tra kiểm tra giám sát việc thực hiện v.v…; Các cơ quan nhà nước và các tổ chức khi thực hiện cung ứng các dịch vụ công luôn có sự giao dịch cụ thể với các tổ chức và công dân không nhằm mục tiêu lợi nhuận. Nhà nước cung ứng dịch vụ công thường thông qua mối quan hệ thị trường không đầy đủ.
Người sử dụng dịch vụ công thông thường không trực tiếp trả tiền, hay nói đúng hơn là đã trả tiền dưới hình thức đóng thuế vào ngân sách nhà nước. Những yêu cầu của dịch vụ công - Phải bảo đảm sự dễ dàng tiếp cận của công dân đến các cơ quan Nhà nước, luôn thực hiện công tác tuyên truyền làm do dân hiểu được quyền hưởng dịch vụ hành chính công mà cơ quan nhà nước có trách nhiệm cung cấp. - Cung cấp cho công dân đầy đủ những thông tin cần thiết bằng ngôn ngữ dễ hiểu, công khai, minh bạch về giải quyết các công việc hành chính và tạo mọi thuận lợi cho công dân. - Đảm bảo chất lượng dịch vụ hành chính công phục vụ kịp thời, giải quyết chính xác, đúng qui định của pháp luật Nhà nước và đáp ứng được yêu cầu của công dân.
9 - Đảm bảo công bằng đối với mọi người dân và tiếp nhận, giải quyết những thông tin phản hồi kịp thời. Chất lượng dịch vụ công Để quản lý một nền kinh tế theo xu hướng hội nhập quốc tế, các cơ quan hành chính nhà nước cần phải đổi mới phương thức hoạt động theo "công nghệ hành chính" tiên tiến. Việc tìm ra những giải pháp khả thi để áp dụng rộng rãi quản lý chất lượng dịch vụ hành chính công cho các cơ quan quản lý hành chính nhà nước là việc làm thiết thực góp phần hiện đại hóa nền hành chính, góp phần nâng cao hiệu quả, hiệu lực của chính quyền các cấp, đồng thời từng bước cung cấp dịch vụ công của các cơ quan hành chính cho người dân. Hiện nay để quản lý và đo lường chất lượng dịch vụ hành chính công, hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO-9001: 2008 được áp dụng.
Nó được xây dựng trên tiêu chuẩn chất lượng ISO 9000 và thực hiện theo một hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn trong một tổ chức, cơ quan hành chính, dựa trên các nguyên tắc quản lý chất lượng cơ bản, nhằm tạo ra một phương pháp làm việc khoa học, mang tính hệ thống, đảm bảo chất lượng dịch vụ cung cấp đã cam kết, thỏa mãn các yêu cầu của khách hàng, các yêu cầu pháp luật và những yêu cầu riêng của tổ chức, cơ quan đó. Việc áp dụng này nhằm nâng cao tính chất phục vụ gắn bó của nhà nước với nhân dân.