CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CÁC LÝ THUYẾT LIÊN QUAN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Ở trong nước NGHIÊN CỨU NHU CẦU DU LỊCH TRẢI NGHIỆM CỦA NGƯỜI DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ (2018) sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng phân tích 5 biến độc lập, 1 biến phụ thuộc trên 200 phiếu chỉ ra rằng trong những năm gần đây, thành phố Cần Thơ có sự phát triển mạnh mẽ các hoạt động du lịch, mức sống của người dân ngày càng cao, kéo theo nhu cầu du lịch cũng tăng mạnh.
Tuy nhiên, nhu cầu du lịch không chỉ dừng lại ở các hoạt động nghỉ ngơi, tham quan truyền thống mà đòi hỏi sự trải nghiệm, học hỏi, khám phá, thử thách nhiều hơn, vì thế, người dân Cần Thơ chuyển sang xu hướng du lịch mới - du lịch trải nghiệm. Du lịch ẩm thực, du lịch mạo hiểm và du lịch biển đảo là các loại hình du lịch được nhiều đáp viên lựa chọn cho những trải nghiệm của mình. Thế nhưng, mặc dù “cầu” tiêu dùng khá cao nhưng đa phần người dân chỉ đi theo hình thức tự tổ chức, ít tham gia tour của các công ty lữ hành. Mặt khác, nhu cầu tham gia du lịch trải nghiệm cũng khác nhau cho từng nhóm đối tượng, đối tượng từ độ tuổi 20 đến 34 tham gia loại hình du lịch trải nghiệm nhiều nhất.
Ngô Mỹ Trân và cộng sự (2016) đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu du lịch nội địa của nhân viên văn phòng tại TP Cần Thơ. Nghiên cứu định lượng được thông qua phiếu điều tra gồm 150 quan sát được thu thập từ phương pháp chọn mẫu thuận tiện và các đối tượng khảo sát là nhân viên văn phòng đã và đang có nhu cầu du lịch; mô hình nghiên cứu có 24 biến đo lường, 18 biến đo lường của 5 nhóm độc lập và 6 biến đo lường là các biến kiểm soát. Kết quả phân tích cho thấy có hai nhân tố có mức tác động thuận chiều đến nhu cầu du lịch nội địa của nhân viên văn phòng là yếu tố ngẫu nhiên và yếu tố văn hóa - xã hội. Trong khi đó, nhóm nhân tố chi phí có hướng ảnh hưởng nghịch chiều đến nhu cầu du lịch nội địa của NVVP tại TPCT.
Đề tài cũng nhận thấy sự tác động nghịch chiều trên là rất lớn so với sự tác động thuận chiều của nhóm yếu tố ngẫu nhiên và văn hóa - xã hội. Phí Thị Huyền Thương, (2021) đã thực hiện nghiên cứu "CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHU CẦU DU LỊCH CỦA DU KHÁCH TẠI ĐÀ NẴNG". Nghiên cứu được thực hiện thông qua dữ liệu khảo sát trực tuyến, kết quả thu được 155 quan sát. Bằng phương pháp đánh giá độ tin cậy Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố khám phá 13 EFA và phân tích tương quan Pearson xác định mô hình nghiên cứu chính thức còn lại 17/18 biến quan sát trong 5 yếu tố có tác động đến nhu cầu du lịch của du khách tại Đà Nẵng.
Sau khi tiến hành phân tích mô hình hồi quy đa biến bằng phương pháp Enter để xây dựng phương trình hồi quy và xác định mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố, ta có thể khẳng định có 4 yếu tố tác động cùng chiều và 1 yếu tố tác động ngược chiều (chi phí) đến nhu cầu du lịch lịch của du khách tại Đà Nẵng theo thứ tự như sau: Yếu tố ngẫu nhiên - điểm du lịch - văn hóa xã hội - Công nghệ. Nguyễn Thị Thanh Ngân đã thực hiện nghiên cứu "KHÁM PHÁ NHU CẦU CỦA KHÁCH DU LỊCH VỀ LOẠI HÌNH DU LỊCH CỘNG ĐỒNG TẠI HUYỆN LẠC DƯƠNG - TỈNH LÂM ĐỒNG". Để nhận biết nhu cầu của khách du lịch, phương pháp nghiên cứu định lượng được thực hiện thông qua mẫu khảo sát Google form và đã thu được 302 quan sát là các khách du lịch; gồm 5 giả thuyết được đề xuất. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra có bốn loại nhu cầu của khách du lịch đối với loại hình DLCĐ, gồm nhu cầu về dịch vụ lưu trú, ăn uống, hướng dẫn và các hoạt động giải trí.
Kết quả nghiên cứu giúp làm rõ nhu cầu của du khách đối với từng dịch vụ và các hoạt động DLCĐ. Kết quả nghiên cứu cho thấy, cần đa dạng hơn nữa các dịch vụ và hoạt động DLCĐ nhằm gia tăng sức hấp dẫn, nâng cao lợi thế cạnh tranh điểm đến và tối đa các mong muốn, nhu cầu của khách du lịch. Năm 2016, nghiên cứu về “CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI SỰ LỰA CHỌN ĐIỂM ĐẾN CỦA NGƯỜI DÂN HÀ NỘI: TRƯỜNG HỢP ĐIỂM ĐẾN HUẾ, ĐÀ NẴNG” thông qua khảo sát 938 du khách cho thấy có sự thay đổi đối với yếu tố động cơ bên trong, cảm nhận về điểm đến và kinh nghiệm du lịch của bản thân. Cụ thể, về động cơ đi du lịch đến Huế, du khách cho rằng, họ mong muốn đến Huế bởi: (1) động cơ bên trong bao gồm: động cơ tâm lý (muốn nghỉ ngơi, khám phá, tìm hiểu về điểm đến) và động cơ giao lưu; (2) cảm nhận về điểm đến được chia nhóm bao gồm: giá trị của tài nguyên, điều kiện phục vụ du lịch tại điểm đến, và các dịch vụ tại điểm đến.
Năm 2017, Hà Nam Khánh Giao và Nguyễn Thị Kim Ngân đã nghiên cứu sự ảnh hưởng của hình ảnh điểm đến tới ý định quay lại Bà Rịa - Vũng Tàu bằng việc khảo sát 398 du khách nội địa. Phương pháp phân tích Cronbach’s Alpha, phân tích EFA cùng với phân tích hồi quy bội được sử dụng với phương tiện SPSS. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 7 nhân tố thuộc về hình ảnh điểm đến là Môi trường (EN); Cơ sở hạ tầng (INF); Khả năng tiếp cận (AC); Hoạt động vui chơi giải trí (LE); Hợp túi tiền (PV); Bầu không 14 khí du lịch (AMP) và Ẩm thực (LF) có tác động tích cực lần lượt đến Ý định quay lại của khách du lịch nội địa tại Bà Rịa – Vũng Tàu. Nghiên cứu đề ra một số hàm ý quản trị cho các doanh nghiệp kinh doanh du lịch đưa ra các chính sách kinh doanh hiệu quả, thu hút khách du lịch.
Du lịch phượt là một thị trường mới nổi trong thời gian gần đây. Năm 2022, Đặng Thị Thanh Loan, Nguyễn Thị Minh Hiếu, Nguyễn Thị Tuyết Ngọc đã thực hiện nghiên cứu khám phá và đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn điểm đến du lịch Bình Định của khách du lịch phượt: “CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH LỰA CHỌN ĐIỂM ĐẾN CỦA KHÁCH DU LỊCH PHƯỢT: TRƯỜNG HỢP KHÁCH DU LỊCH NỘI ĐỊA ĐẾN BÌNH ĐỊNH”. Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, với số phiếu 375; sau khi tiến hành kiểm định độ tin cậy, phân tích nhân tố khám phá và phân tích hồi quy, ngoài yếu tố nhân khẩu học và đặc điểm chuyến đi, có ba yếu tố ảnh hưởng đến quyết định của du khách phượt được sắp xếp theo mức độ quan trọng lần lượt là: hình ảnh điểm đến, nguồn thông tin điểm đến và động cơ du lịch. Nghiên cứu của Trần Minh Hiếu, Châu Thị Thuỳ Dương đã chỉ ra bảy yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn điểm đến khu du lịch Lâm Viên - Núi Cấm của khách du lịch: (1) động lực du lịch, (2) cơ sở hạ tầng, (3) lịch sử và văn hóa, (4) ẩm thực và mua sắm, (5) môi trường cảnh quan; và (6) thông tin điểm đến.
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng để kiểm định mô hình lý thuyết bao gồm (1) nghiên cứu định tính thực hiện thông qua phương pháp thảo luận tay đôi (n = 5) và (2) nghiên cứu định lượng được thực hiện bằng kỹ thuật phỏng vấn qua bản câu hỏi chi tiết (n = 200). Thang đo được đánh giá bằng công cụ kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá (EFA). Nguyễn Thị Bình (2017) nghiên cứu các yếu tố phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn điểm đến Phú Quốc của khách du lịch nội địa cho thấy có bốn yếu tố (động cơ kéo; động cơ đẩy; giá tour du lịch; thông tin quảng bá) ảnh hưởng theo thứ tự quan trọng khác nhau đến quyết định lựa chọn Phú Quốc làm điểm đến của khách du lịch nội địa; trong đó hình ảnh điểm đến và công tác truyền thông quảng bá đóng vai trò quan trọng đặc biệt đối với du khách. Bùi Nhất Vương, Nguyễn Thị Thanh Huyền (2021) đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của du khách nội địa đối với chất lượng dịch vụ du lịch sinh thái 15 Cà Mau bằng dữ liệu khảo sát đã thu thập từ 275 du khách đến thăm quan tại Cà Mau, gồm 8 biến (1 biến phụ thuộc và 7 biến độc lập) đã chỉ ra dịch vụ mua sắm, ăn uống và giải trí, giá cả cảm nhận, phong cảnh du lịch, an ninh trật tự và phương tiện vận chuyển đã có sự liên kết tích cực đến sự hài lòng của du khách nội địa.
Nguyễn Xuân Hiệp (2016) đã có bài nghiên cứu “CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH LỰA CHỌN ĐIỂM ĐẾN CỦA KHÁCH DU LỊCH: TRƯỜNG HỢP ĐIỂM ĐẾN TP. HỒ CHÍ MINH”. Nghiên cứu khám phá và đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn điểm đến (LCĐĐ) TP.HCM của khách du lịch, bằng phương pháp kết hợp nghiên cứu định tính và định lượng, với 615 khách du lịch nội địa và quốc tế đã tham quan du lịch tại TP. Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định LCĐĐ TP.HCM của khách du lịch bao gồm: Động lực du lịch, hình ảnh điểm đến, và nguồn thông tin điểm đến.
Trong đó, thông tin điểm đến có ảnh hưởng đến động lực du lịch, và động lực du lịch có ảnh hưởng mạnh đến hình ảnh điểm đến. Nguyễn Quốc Nghi và cộng sự (2011) đã nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia tổ chức du lịch cộng đồng của người dân tỉnh An Giang bằng phương pháp định lượng với số liệu từ 135 hộ gia đình. Ứng dụng mô hình hồi quy binary logistic, nghiên cứu cho thấy, 5 nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia tổ chức du lịch cộng đồng của người dân là trình độ học vấn của chủ hộ, quy mô gia đình, thu nhập gia đình, vốn xã hội và nghề truyền thống. Trong đó, nhân tố quy mô gia đình tác động mạnh nhất đến quyết định tham gia phát triển du lịch của người dân.
Trương Trí Thông, Hồ Tiểu Bảo và Lê Thuỳ Dương (2022) nghiên cứu ẢNH HƯỞNG CỦA TRUYỀN THÔNG MẠNG XÃ HỘI ĐẾN Ý ĐỊNH DU LỊCH CỦA DU KHÁCH THẾ HỆ Z Ở VIỆT NAM.