chương 1. MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. Quy trình nghiên cứu. Xây dựng mô hình nghiên cứu.
Các giả thuyết nghiên cứu. Mô hình nghiên cứu. Đo lường các biến trong mô hình. Mẫu và dữ liệu nghiên cứu.
Mẫu nghiên cứu. Dữ liệu nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu. Thống kê mô tả.
Phân tích tương quan. Phân tích hồi quy đa biến. Kiểm tra và khắc phục các khuyết tật của mô hình. 46 Kết luận chương 2.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU. Kết quả thống kê mô tả. Kết quả phân tích tương quan. Kết quả phân tích hồi quy.
Kết quả phân tích hồi quy theo mô hình Pooled OLS. Kết quả phân tích hồi quy theo mô hình FEM. Kết quả phân tích hồi quy theo mô hình REM. Lựa chọn mô hình hồi quy phù hợp.
Kiểm tra và khắc phục khuyết tật của mô hình FEM. Bàn luận kết quả nghiên cứu. 59 Kết luận chương 3. KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ.
Kết luận chung về kết quả nghiên cứu. Một số hàm ý quản trị. Đối với nhân tố quy mô doanh nghiệp. Đối với nhân tố cấu trúc vốn.
Đối với nhân tố số vòng quay tài sản. Đối với nhân tố cấu trúc tài sản. Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo trong tương lai. 70 Kết luận chương 4.
71 KẾT LUẬN CHUNG. 72 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN v DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT STT Từ viết tắt Từ đầy đủ 1 CTV Cấu trúc vốn 2 DN Doanh nghiệp 3 EPS Thu nhập trên mỗi cổ phần 4 FEM Mô hình tác động cố định 5 HQKD Hiệu quả kinh doanh 6 NPT Nợ phải trả 7 REM Mô hình tác động ngẫu nhiên 8 ROA Tỷ suất sinh lợi của tài sản 9 ROE Tỷ suất sinh lợi của vốn chủ sở hữu 10 TSCĐ Tài sản cố định 11 TTCK Thị trường chứng khoán 12 VCSH Vốn chủ sở hữu vi DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU Danh mục các sơ đồ Trang Sơ đồ 2. Quy trình nghiên cứu. Mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến HQKD của các công ty ngành Y tế trên TTCK Việt Nam.
41 Danh mục các bảng biểu Trang Bảng 1. Bảng tóm tắt kết quả nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến HQKD trong DN. Mô tả cách đo lường các biến được sử dụng trong nghiên cứu. Kết quả thống kê mô tả.
Ma trận hệ số tương quan giữa các biến. Kết quả phân tích hồi quy theo mô hình Pooled OLS. Kết quả phân tích hồi quy theo mô hình FEM. Kết quả phân tích hồi quy theo mô hình REM.
Kết quả kiểm định Hausman. Kết quả kiểm tra phương sai sai số thay đổi. Kết quả kiểm tra tự tương quan. Kết quả kiểm tra đa cộng tuyến.
Kết quả hồi quy bằng phương pháp Driscoll-Kraay. Tổng hợp tác động của các nhân tố trong mô hình. Tổng hợp kết quả kiểm định các giả thuyết nghiên cứu. Tính cấp thiết của đề tài Hiệu quả (kỹ thuật hoặc sản xuất) của một công ty có thể được định nghĩa là khả năng của công ty để tạo ra nhiều đầu ra nhất với một lượng đầu vào nhất định [22].
Tương tự như vậy, theo Nguyễn Ngọc Quang [10, trang 149] thì “Hiệu quả kinh doanh (HQKD) là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh trình độ sử dụng các nguồn vật lực, tài chính của doanh nghiệp (DN) để đạt được kết quả cao nhất trong điều kiện chi phí thấp nhất”. Phân tích HQKD có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với hoạt động của một DN. Đầu tiên, phân tích HQKD giúp đánh giá được trình độ sử dụng các yếu tố đầu vào trong phạm vi toàn DN, toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như ở từng bộ phận cấu thành. Bên cạnh đó, phân tích HQKD giúp tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến HQKD để có cơ sở đưa ra các biện pháp thích hợp trên đồng thời cả hai phương diện (tăng yếu tố đầu ra - giảm chi phí hay yếu tố đầu vào) nhằm nâng cao HQKD.
Vì có ý nghĩa lớn đối với hoạt động của DN, Hanousek và cộng sự [22, trang 24] đã cho rằng “Điều gì quyết định đến HQKD của một DN là một câu hỏi trọng tâm trong kinh tế và tài chính”. Đây cũng chính là lý do dẫn đến việc đã có khá nhiều tác giả trong nước cũng như ngoài nước điều tra, nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến HQKD trong DN. Theo Zeitun và Tian [28], bên cạnh các nhân tố nội tại của DN hay các nhân tố của nền kinh tế vĩ mô và môi trường khu vực thì nhân tố ngành nghề kinh doanh cũng có tác động mạnh mẽ đến HQKD. Pouraghajan và cộng sự [25] cũng tìm thấy trong khi các ngành công nghiệp sản phẩm từ chất khoáng phi kim loại, thực phẩm và đồ uống, kim loại cơ bản, phụ tùng ô tô và sản xuất có ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả tài chính đại diện bởi tỷ suất sinh lợi của tài sản (ROA) và tỷ suất sinh lợi của vốn chủ sở hữu (ROE) thì ngành công nghiệp vật liệu và sản phẩm hóa chất lại có ảnh hưởng tích cực đến biến phụ thuộc.
Tương tự như các tác giả trên, nhiều nghiên cứu thực nghiệm khác cũng cho thấy tùy theo đặc điểm riêng của mỗi ngành nghề mà các nhân tố ảnh hưởng đến HQKD cũng hoàn toàn khác nhau. Tại Việt Nam, các tác giả đã nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến HQKD trong các công ty niêm yết nói chung [9], trong loại hình DN nhà nước ([6], [17]) hay DN ngoài nhà nước [2]. Đặc biệt, nhiều nghiên cứu 2 điều tra các nhân tố ảnh hưởng đến HQKD đã được thực hiện cho các ngành nghề riêng biệt như ngành sản xuất chế biến thực phẩm [16], ngành bất động sản ([3], [8]), ngành xây dựng [5], ngành dầu khí [15],… Tuy nhiên theo sự tìm hiểu của tác giả, hiện nay chưa có nghiên cứu nào điều tra các nhân tố ảnh hưởng đến HQKD của các công ty ngành Y tế trên thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam. Với vai trò chữa bệnh, chế tạo, sản xuất, cung cấp dược phẩm và các dịch vụ y tế cho cộng đồng, các công ty ngành Y tế có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sức khỏe của con người cũng như vấn đề an sinh xã hội của một quốc gia.
Xuất phát từ tính cấp thiết nêu trên, tác giả đã quyết định lựa chọn đề tài “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của các công ty ngành Y tế trên thị trường chứng khoán Việt Nam” làm luận văn thạc sĩ của mình. Tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến đề tài 2. Tổng quan nghiên cứu nước ngoài Trong các nghiên cứu ở nước ngoài, HQKD có thể được đo lường bằng các thước đo kế toán hoặc cả những thước đo khác như thước đo thị trường hay thước đo kỹ thuật. Do đó, tác giả chia tổng quan nghiên cứu nước ngoài thành hai nhóm như sau: Nhóm nghiên cứu chỉ đo lường HQKD bằng các thước đo kế toán Bhayani [20, trang 6] trong nghiên cứu “Determinant of profitability in Indian Cement Industry: An economic analysis” đã cho rằng “Hiệu quả của bất kỳ tổ chức nào đều có thể được đánh giá thông qua lợi nhuận của nó”.
Do đó, tác giả đã tiến hành kiểm tra xem nhân tố nào đang ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của các công ty ngành công nghiệp xi măng ở Ấn Độ. Nghiên cứu bao gồm tất cả các công ty xi măng được liệt kê là đang hoạt động ở Ấn Độ trong giai đoạn 2001 đến 2008. Biến phụ thuộc là khả năng sinh lợi được đo lường bằng tỷ lệ thu nhập trên vốn sử dụng (ROCE). Biến độc lập bao gồm: số vòng quay tài sản cố định (TSCĐ), tỷ lệ lợi nhuận hoạt động, tính thanh khoản, tuổi công ty, số vòng quay khoản phải thu, tốc độ tăng trưởng doanh thu, quy mô công ty, tỷ lệ nợ trên tổng tài sản, tỷ lệ lãi suất, tỷ lệ lạm phát.
Kết quả của nghiên cứu cho thấy rằng tính thanh khoản, số vòng quay TSCĐ, tuổi của công ty, tỷ suất lợi nhuận hoạt động, lãi suất và tỷ lệ lạm 3 phát đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định lợi nhuận của ngành công nghiệp xi măng Ấn Độ. Trong đó, chỉ có lãi suất là có tác động tiêu cực đến khả năng sinh lợi còn các nhân tố còn lại đều có tác động tích cực đến khả năng sinh lợi. Pouraghajan và cộng sự [25] thực hiện nghiên cứu “The Relationship between capital structure and firm performance evaluation measures: Evidence from the Tehran Stock Exchange”. Mục đích của bài nghiên cứu là nhằm điều tra tác động của cấu trúc vốn (CTV) và một số nhân tố khác như số vòng quay tài sản, quy mô công ty, tuổi công ty, cấu trúc tài sản, cơ hội tăng trưởng và ngành công nghiệp đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các công ty niêm yết ở Iran giai đoạn 2006-2010.
Biến phụ thuộc được đại diện bởi ROA và ROE. Kết quả cho thấy tỷ lệ nợ có tác động tiêu cực lên cả ROA và ROE. Ngoài ra, các nhân tố khác bao gồm số vòng quay tài sản, quy mô công ty, tỷ lệ tài sản hữu hình và cơ hội tăng trưởng có mối quan hệ tích cực đến cả ROA và ROE. Bên cạnh đó, ngành công nghiệp cũng ảnh hưởng đến biến phụ thuộc.
Cụ thể, các ngành sản xuất khoáng sản phi kim loại khác, sản xuất thực phẩm và nước uống, kim loại cơ bản, phụ tùng ô tô và sản xuất có ảnh hưởng tiêu cực còn các ngành công nghiệp sản xuất hóa chất và vật liệu có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả hoạt động kinh doanh. Ngoài ra, tuổi công ty được tìm thấy không có ý nghĩa thống kê với ROA và ROE. Alarussi và Alhaderi [18] trong nghiên cứu “Factors affecting profitability in Malaysia” đã lập luận rằng lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu của mọi hoạt động kinh doanh để tồn tại được trong dài hạn, tuy nhiên lại có ít sự chú ý về các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận ở các quốc gia đang phát triển. Do đó, tác giả đã tiến hành xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến ROE và EPS (thu nhập trên mỗi cổ phần) trong các công ty niêm yết của Malaysia.