MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Vốn của doanh nghiệp đƣợc tài trợ từ các nguồn khác nhau. Hoạt động tài trợ không chỉ mang lại vốn cho hoạt động của doanh nghiệp mà còn tạo ra một cấu trúc vốn nhất định. Cấu trúc tài chính có ảnh hƣởng đến hiệu quả và rủi ro của doanh nghiệp.
Một cấu trúc tài chính phù hợp là quyết định quan trọng với mọi doanh nghiệp không chỉ bởi nhu cầu tối đa hóa lợi ích thu đƣợc từ các cá nhân và tổ chức liên quan tới doanh nghiệp và hoạt động của doanh nghiệp mà còn bởi tác động của quyết định này tới năng lực kinh doanh của doanh nghiệp trong môi trƣờng cạnh tranh. Việt Nam đƣợc “mẹ thiên nhiên” ƣu đãi cho nguồn tài nguyên phong phú, chính vì vậy ngành khoáng sản Việt Nam đƣợc đánh giá tiềm năng, tƣơng đối đa dạng với hơn 5000 điểm mỏ thuộc 60 loại khoáng sản đƣợc phát hiện và khai thác. Nhu cầu và giá bán nhiều loại khoáng sản đƣợc quyết định bởi thị trƣờng thế giới. Các sản phẩm chủ yếu của ngành khoáng sản Việt Nam là dầu thô, kém, chì, titan, antimony, mangan… Trung bình mỗi năm ngành công nghiệp khoáng sản nƣớc ta cung cấp cho nền kinh tế khoảng 90 triệu tấn đá vôi xi măng, khoảng 70 triệu m3 đá vật liệu xây dựng thông thƣờng, gần 100 triệu m3 cát xây dựng, cát san lấp, trên 45 triệu tấn than, trên 3 triệu tấn quặng sắt v.; giá trị sản lƣợng ngành khoáng sản (không kể dầu khí) chiếm khoảng 4-5% tổng GDP hàng năm; đóng góp trực tiếp cho ngân sách từ tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trƣờng (không kể dầu khí) từ năm 2014 đến nay, trung bình mỗi năm từ 16- 20.000 tỷ đồng, trong đó thuế tài nguyên từ 10.
Với những thành tích đã đạt đƣợc, ngành khoáng sản xứng đáng là một trong 2 những ngành kinh tế mũi nhọn trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc, mang triển vọng lâu dài do sức cầu từ sự phát triển kinh tế thế giới nói chung và kinh tế Việt Nam nói riêng. Tuy nhiên, hiện nay ngành khoáng sản cũng gặp rất nhiều khó khăn nhƣ: hiệu quả đầu tƣ của ngành chƣa cao so với các ngành khác do các doanh nghiệp chỉ chú ý đầu tƣ mở rộng chứ chƣa tập trung phát triển theo chiều sâu, áp lực gia tăng chi phí nguyên vật liệu đầu vào kèm theo biểu thuế các loại khoáng sản gia tăng từ năm 2011 làm gia tăng chi phí cho các doanh nghiệp, cũng nhƣ chịu sự cạnh tranh hết sức quyết liệt trên toàn cầu. Thực tế cho thấy số lƣợng các doanh nghiệp Việt Nam hoạt động trong ngành này không nhiều, rào cản gia nhập ngành lớn, nhất là nhu cầu về vốn lớn. Để đạt đƣợc một vị trí mong muốn trên thị trƣờng, nâng cao hiệu quả và giá trị của doanh nghiệp, các nhà quản lý cần nghiên cứu và đƣa ra các giải pháp đúng đắn.
Và một trong số đó là phải xây dựng một cấu trúc tài chính hợp lý. Trong những năm gần đây, đã có nhiều nghiên cứu trong và ngoài nƣớc về cấu trúc tài chính ngành nhƣng đối với ngành khoáng sản thì chƣa có đề tài nghiên cứu cụ thể. Bên cạnh đó, việc phân tích sự tác động của các nhân tố đến cấu trúc tài chính ngành khoáng sản để giúp các doanh nghiệp tham khảo, định hƣớng hoạt động cũng chƣa đƣợc đề cập đến một cách trực quan với số liệu. Chính vì vậy, xuất phát từ nhiều lý do trên, tôi lựa chọn đề tài này nhằm nghiên cứu cấu trúc tài chính các công ty ngành khoáng sản niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán, các nhân tố ảnh hƣởng đến cấu trúc tài chính ngành; từ đó giúp công ty ngành khoáng sản xây dựng chính sách tài trợ hợp lý, nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu này nhằm tìm kiếm bằng chứng về các nhân tố ảnh hƣởng 3 cũng nhƣ mức độ ảnh hƣởng của các nhân tố này đến cấu trúc tài chính của các công ty nhóm ngành khoáng sản niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam. Từ những kết luận có đƣợc, tác giả sẽ đƣa ra những gợi ý, khuyến nghị có liên quan để giúp các công ty thuộc nhóm ngành khoáng sản có thêm một kênh thông tin để tìm hiểu, từ đó tạo ra một cấu trúc tài chính thích hợp. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu - Đối tƣợng: Nhận diện và đo lƣờng mức độ ảnh hƣởng của các nhân tố đến cấu trúc tài chính của các công ty thuộc nhóm ngành khoáng sản đƣợc niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam. - Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu cấu trúc tài chính của 23 công ty thuộc nhóm ngành khoáng sản đƣợc niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán, trong khoảng thời gian từ năm 2012 đến năm 2016.
Cấu trúc tài chính đƣợc nghiên cứu dựa vào số liệu Báo cáo tài chính quý. Nhƣ vậy mẫu nghiên cứu có tổng cộng 460 quan sát. Phƣơng pháp nghiên cứu Đề tài sử dụng cách tiếp cận chứng thực để kiểm chứng các nhân tố ảnh hƣởng đến cấu trúc tài chính của các công ty ngành khoáng sản niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam. Phƣơng pháp nghiên cứu định lƣợng: Mô hình hồi quy tuyến tính đa biến xác định các nhân tố ảnh hƣởng cấu trúc tài chính các công ty ngành khoáng sản đƣợc vận dụng.
Từ bộ dữ liệu thu thập đƣợc của các công ty ngành khoáng sản niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam, sử dụng công cụ eview để xác định hệ số hồi quy. Tiếp theo thực hiện kiểm định sự tác động và mức độ ảnh hƣởng của các nhân tố đến cấu trúc tài chính của các công ty ngành khoáng sản. Quy trình nghiên cứu tóm lƣợc nhƣ sau: - Xây dựng giả thuyết nghiên cứu 4 - Lựa chọn mô hình nghiên cứu - Thu thập số liệu - Phân tích hồi quy với dữ liệu bảng - Trình bày và phân tích kết quả, đƣa ra những gợi ý từ kết quả phân tích. Bố cục của luận văn Luận văn đƣợc tổ chức thành bốn chƣơng.
Chƣơng 1 sẽ trình bày tổng quan cơ sở lý thuyết về cấu trúc tài chính cũng nhƣ liệt kê các nhân tố ảnh hƣởng đến cấu trúc tài chính. Trong chƣơng 2 trình bày thiết kế nghiên cứu với cụ thể từng nội dung nghiên cứu theo quy trình 6 bƣớc. Kết quả phân tích đƣợc trình bày ở chƣơng 3. Chƣơng 4 trình bày kết luận và hàm ý chính sách và khuyến nghị.
Tổng quan tài liệu nghiên cứu Đề tài đƣợc thực hiện dựa trên nền tảng cơ sở lý thuyết về cấu trúc tài chính, các nhân tố ảnh hƣởng đến cấu trúc tài chính doanh nghiệp. Bên cạnh đó, đề tài cũng tìm hiểu và tham khảo nhiều nghiên cứu trong và ngoài nƣớc về các nhân tố ảnh hƣởng đến cấu trúc tài chính doanh nghiệp. Nghiên cứu của Modigliani và Miller (1958, 1963) khuyến khích doanh nghiệp sử dụng nợ bởi giá trị của doanh nghiệp sẽ tăng lên và chi phí sử dụng vốn trung bình giảm xuống khi doanh nghiệp gia tăng tỷ số nợ. Tuy nhiên, lƣợng nợ sẽ bị hạn chế do sự cân đối giữa lợi ích và rủi ro do nợ mang lại, đây là quan điểm của lý thuyết đánh đổi, và sau đó là lý thuyết trật tự phân hạng của Myers ra đời để giải thích sự lựa chọn cấu trúc tài chính.
Nghiên cứu của Huang và Song (2002) về “các nhân tố ảnh hƣởng đến cấu trúc tài chính của các doanh nghiệp” trên cơ sở dữ liệu thị trƣờng và dữ liệu kế toán của hơn 1000 doanh nghiệp Trung Quốc đƣợc niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán, kết quả nghiên cứu này đã chỉ ra rằng tỉ lệ nợ trên tổng 5 tài sản của doanh nghiệp có tƣơng quan thuận với quy mô doanh nghiệp; lá chắn thuế, tài sản cố định có tƣơng quan tỷ lệ nghịch với lợi nhuận còn ngành nghề kinh doanh của các doanh nghiệp, cấu trúc tài chính tỷ lệ nghịch với hiệu quả kinh doanh. Nghiên cứu của tác giả Trần Đình Khôi Nguyên (2006) về “cấu trúc tài chính các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam” sử dụng số liệu của 30 doanh nghiệp vừa và nhỏ trong khoảng thời gian từ năm 1999 đến năm 2001 thuộc nhiều hình thức sở hữu khác nhau ở nhiều lĩnh vực (ngoại trừ lĩnh vực tài chính). Dựa trên thực tiễn của thị trƣờng tài chính Việt Nam, tác giả đã nghiên cứu và chỉ ra các nhân tố dự tính ảnh hƣởng đến cấu trúc tài chính của các doanh nghiệp: sự tăng trƣởng của doanh nghiệp có quan hệ cùng chiều với tỷ lệ nợ dài hạn; cấu trúc tài sản có quan hệ nghịch chiều với tỷ số nợ nói chung và tỷ số nợ ngắn hạn nói riêng, nhƣng có quan hệ thuận chiều với tỷ số nợ dài hạn; về hình thức sở hữu, các doanh nghiệp Nhà nƣớc sử dụng nhiều nợ hơn nhóm các doanh nghiệp thuộc các loại hình khác. Nghiên cứu của Trƣơng Đông Lộc, Võ Kiều Trang (2008) về “các yếu tố ảnh hƣởng đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp cổ phần niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam”.
Nghiên cứu cho thấy cấu trúc vốn của các doanh nghiệp niêm yết có tƣơng quan thuận với quy mô doanh nghiệp, ngành nghề chính của doanh nghiệp, tốc độ tăng trƣởng của doanh nghiệp và tƣơng quan nghịch với tình trạng lợi nhuận của doanh nghiệp. Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thành Cƣờng (2008) về “Các nhân tố ảnh hƣởng đến cấu trúc tài chính của các doanh nghiệp chế biến thủy sản Khánh Hòa” đã sử dụng phƣơng pháp phân tích định tính và định lƣợng để phân tích số liệu báo cáo tài chính của 22 doanh nghiệp chế biến thủy sản Khánh Hòa giai đoạn 2003-2007. Nghiên cứu đã phân tích đƣợc cấu trúc tài 6 chính đặc trƣng của ngành thủy sản Khánh Hòa cũng nhƣ các nhân tố ảnh hƣởng đến cấu trúc tài chính ngành là: quy mô doanh nghiệp, khả năng sinh lời và cơ hội tăng trƣởng có quan hệ thuận chiều với cấu trúc tài chính còn cấu trúc tài sản, tỷ suất lãi vay có quan hệ ngƣợc chiều với cấu trúc tài chính, từ đó đề xuất nhằm góp phần tái cấu trúc tài chính cho các doanh nghiệp hƣớng đến mục tiêu tối đa giá trị doanh nghiệp. Nghiên cứu Đoàn Ngọc Phi Anh (2010) về “Các nhân tố ảnh hƣởng đến cấu trúc tài chính và hiệu quả tài chính trong doanh nghiệp” đã sử dụng phƣơng pháp phân tích đƣờng dẫn (path analysis) để phân tích số liệu của 428 doanh nghiệp niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam trong khoảng thời gian từ năm 2007 đến năm 2009.