CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Vai trò của cây lạc trong hệ thống cây trồng Lạc thuộc nhóm cây công nghiệp ngắn ngày, có thời gian sinh trưởng khoảng 4 tháng, giá trị kinh tế cao, yêu cầu điều kiện khí hậu và đất đai không khắt khe, có khả năng cải tạo đất rất tốt. Do đó, cây lạc có khả năng cho năng suất cao ở nhiều vùng sinh thái và là cây trồng được lựa chọn hàng đầu trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng, ngoài khả năng trồng luân canh cây lạc cũng thích nghi tốt trong canh tác xen canh với một số cây trồng khác như mía, sắn, cây lâu năm ….
Hiện nay, tại Việt Nam lạc là cây trồng cho hiệu quả kinh tế khá cao, cao hơn rất nhiều so với trồng lúa và đặc biệt là trên đất lúa kém hiệu quả. Kết quả đánh giá hiệu quả của mô hình thâm canh lạc trên đất lúa kém hiệu quả tại Lào Cai, Lê Quốc Thanh và cs. (2019) [52] đã kết luận mô hình thâm canh lạc cho lãi thuần cao hơn sản xuất lúa là 20,31 triệu/ha/vụ, tỷ suất lợi nhuận cận biên đạt 2,2. Theo Lin (1990) [124] nghiên cứu công thức luân canh các cây trồng cạn với lúa tại Trung Quốc và Đài Loan cho thấy, khi đưa các cây họ đậu vào luân canh với lúa đã giúp cải thiện tính chất lý, hoá của đất một cách rõ rệt, làm thay đổi pH của đất, tăng hàm lượng chất hữu cơ, cải tạo thành phần cơ giới, tăng lượng lân, kali dễ tiêu trong đất.
Trên đất cát ven biển vùng duyên hải Nam Trung bộ, Hoàng Minh Tâm và cs. (2010) [48] đã xác định được cơ cấu cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao nhất là lạc (Đông xuân) - vừng (Hè thu) - khoai lang (Thu đông); cơ cấu trồng lạc xen sắn mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn trồng sắn thuần và có hiệu quả tích cực trong việc giảm thoái hóa đất do người dân thường trồng độc canh cây sắn. Kết quả nghiên cứu của Đỗ Thanh Định và cs. (2019) [20] về hiệu kinh tế mô hình trồng sắn xen lạc tại huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định đã kết luận, trồng sắn xen lạc làm tăng năng suất của cả lạc và sắn, năng suất sắn đạt 23,13 tấn/ha và lạc đạt 4,19 tấn/ha, mô hình trồng sắn xen lạc có doanh thu 98,62 triệu đồng/ha và cao gấp 13 lần so với trồng sắn độc canh.
Tác giả Nguyễn Thị Chinh và cs. (2002) [8] nghiên cứu phát triển vụ lạc thu đông ở các tỉnh phía Bắc đã kết luận, sản xuất lạc thu đông đã cho lợi nhuận thuần cao hơn một số cây trồng khác (khoai lang, ngô, đậu tương) từ 6,4 - 10,8 triệu đồng/ha/vụ. Kết quả nghiên cứu về hệ thống canh tác bền vững vùng Bảy Núi - An Giang của 5 Nguyễn Văn Minh và Trần Văn Khải (2011) [39] đã tìm ra được 6 hệ thống canh tác thích nghi và bền vững trong đó hệ thống canh tác lúa - lạc cho thu nhập biên (MRR = 2,08) và lãi (26,34 triệu đồng/ha) cao nhất. Kết quả nghiên cứu của Phạm Văn Linh (2005) [36] về lợi thế các loại cây trồng nông nghiệp trên đất cát biển vùng Cửa Lò, tỉnh Nghệ An đã kết luận, lạc là cây trồng có ưu thế và đạt năng suất bình quân cao hơn năng suất bình quân toàn tỉnh là 9,6%.
Tóm lại, lạc thực sự là một cây trồng quan trọng của loài người, đặc biệt là ở các vùng sinh thái khó khăn. Cây lạc vừa cung cấp nguồn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng và hiệu quả sản xuất cao, vừa là cây trồng cải tạo đất rất tốt. Đặc biệt, do thời gian sinh trưởng ngắn nên cây lạc phù hợp với nhiều cơ cấu cây trồng và hệ thống canh tác khác nhau. Yêu cầu sinh thái của cây lạc 1.
Yêu cầu về đất đai Cây lạc không yêu cầu đất trồng phải có độ phì cao, nhưng đất trồng lạc phải luôn tơi và xốp để rễ có thể phát triển thuận lợi, đủ ôxy cho vi sinh vật cố định N hoạt động tốt, tia quả đâm xuống đất dễ dàng và dễ thu hoạch. Lạc là cây trồng lấy quả nhưng quả lạc từ khi hình thành cần phải có bóng tối và phải có một tác động cơ học cùng với bóng tối để quả phát triển. Do đó, đất trồng lạc một mặt cần cung cấp dinh dưỡng, một mặt cần phải có kết cấu phù hợp để quả phát triển. Theo Vũ Công Hậu và cs.
(1995) [23], cấu tượng đất còn quan trọng hơn cả độ phì, đất có kết cấu mịn, nhiều sét không tốt khi trồng lạc nhờ nước trời vì khó thu hoạch, khi hạn kéo dài đất rắn lại, tia quả không đâm xuống đất được và quả không phát triển. Do vậy, tiêu chuẩn đầu tiên chọn đất trồng lạc là thành phần cơ giới đất, đất thích hợp cho trồng lạc là đất nhẹ, thành phần cát thô cát mịn nhiều hơn sét, dung trọng đất 1,1 - 1,35 (Đoàn Thị Thanh Nhàn và cs. Theo York and Codwell (1951) [188] đất trồng lạc lý tưởng phải là đất thoát nước nhanh, có màu sáng, tơi xốp, phù sa pha cát, có đầy đủ canxi và một lượng chất hữu cơ vừa phải. Về mặt hóa tính đất, cây lạc có thể chịu được pH từ 4,5 - 9,0 nhưng pH đất thích hợp nhất cho cây lạc là đất hơi chua và gần trung tính (pH = 5,5 - 7,0).
Trên đất có độ chua cao, không thích hợp với lạc quả to và việc cải tạo đất theo hướng nâng cao pH thích hợp là biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất lạc quan trọng. Yêu cầu về nhiệt độ Đối với cây trồng, nhiệt độ không chỉ ảnh hưởng đến quá trình quang hợp, hô hấp, vận chuyển và phân bố các chất đồng hóa trong cây, nhiệt độ còn là yếu tố ngoại cảnh có ảnh hưởng trực tiếp đến sự sâm nhập dinh dưỡng khoáng vào cây, nhiệt độ ảnh hưởng đến cả hút khoáng chủ động và bị động. Trong giới hạn nhiệt độ nhất định thường 6 đến 35 - 400C thì với đa số cây trồng ở Việt Nam có tốc độ xâm nhập khoáng tăng theo nhiệt độ, tốc độ hút khoáng giảm và có thể bị ngừng khi nhiệt độ đạt trên 500C hoặc dưới 100C (Hoàng Minh Tấn và cs. Đối với cây lạc, nhiệt độ là yếu tố ngoại cảnh có ảnh hưởng lớn đến thời gian sinh trưởng của cây.
Theo kết quả tổng hợp của Đoàn Thị Thanh Nhàn và cs. (1996) [40]: Nhiệt độ trung bình ngày thích hợp trong suốt chu kỳ sinh trưởng và phát triển của cây lạc là 25 - 300C và cây lạc yêu cầu tổng tích ôn từ 2. Thời kỳ nảy mầm, nhiệt độ thích hợp từ 25 - 300C và cây lạc yêu cầu tổng tích ôn từ 250 - 3200C, ở nhiệt độ thấp sẽ kéo dài thời gian nảy mầm, ở nhiệt độ dưới 50C hoặc trên 540C hạt sẽ mất sức nẩy mầm. Trong thực tế sản xuất, nhiệt độ thích hợp cho hạt nảy mầm là 28 - 300C và cây lạc sẽ mọc sau gieo từ 5 - 7 ngày.
Thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng, nhiệt độ thích hợp 20 - 300C và tối thích là 250C, tổng tích ôn yêu cầu từ 700 - 1.0000C, ở nhiệt độ 30 - 350C sẽ rút ngắn thời gian sinh trưởng, ở nhiệt độ dưới 200C sẽ làm ức chế sinh trưởng và cản trở sự phân hóa mầm hoa. Nhiệt độ trung bình thích hợp nhất để cây lạc có thời gian sinh trưởng đến trước ra hoa từ 30 - 35 ngày là thích hợp nhất. Thời kỳ ra hoa và kết quả, nhiệt độ thích hợp 24 - 330C, ở nhiệt độ trên 340C sức sống của hạt phấn giảm dần, ở nhiệt độ dưới 200C tỷ lệ hoa hữu hiệu giảm. Thời kỳ chín, nhiệt độ thích hợp là 25 - 280C, ở nhiệt độ dưới 200C làm cản trở quá trình vận chuyển dinh dưỡng về hạt và xuống dưới 150C thì quá trình vận chuyển dừng lại.
Điều kiện chênh lệch nhiệt độ ngày đêm có lợi cho quá trình tích lũy chất khô vào hạt là 8 - 100C (nhiệt độ ban ngày 280C và ban đêm 190C). Yêu cầu về ánh sáng Ánh sáng là điều kiện ngoại cảnh cơ bản để cây trồng tiến hành quá trình quang hợp, tích lũy các hợp chất hữu cơ, bóng tối là yếu tố cảm ứng và có ý nghĩa quyết định cho sự ra hoa của cây trồng (Hoàng Minh Tấn và cs. Lạc thuộc nhóm cây ngày ngắn nhưng phản ứng rất yếu với quang chu kỳ. Tuy cây lạc ra hoa không phụ thuộc vào ngày dài hay ngày ngắn nhưng nụ hoa nở được và số lượng hoa nở thì phụ thuộc rất nhiều vào ánh sáng; đồng thời, khi trồng trong điều kiện ngày ngắn, cây lạc ra hoa chậm lại và nở ít hoa hơn khi trồng trong điều kiện ngày dài (Vũ Công Hậu và cs.
Tại Việt Nam, các kết quả nghiên cứu của Bùi Huy Đáp, Nguyễn Công Danh đều cho thấy, thời gian sinh trưởng của cây lạc không phụ thuộc vào quang chu kỳ (Đoàn Thị Thanh Nhàn và cs. 7 Số giờ nắng/tháng đạt khoảng 200 giờ sẽ thuận lợi cho quá trình nở hoa, số giờ nắng/ngày thấp sẽ làm giảm số hoa nở và kéo dài thời gian ra hoa. Trong thời kỳ nở hoa, trong những ngày nắng hoa sẽ nở sớm (6 - 8 giờ sáng), nở tập trung và quá trình thụ phấn và thụ tinh cũng thuận lợi hơn so với những ngày không có nắng (Đoàn Thị Thanh Nhàn và cs. Yêu cầu về nước Đối với cây trồng, hàm lượng nước trong lá có liên quan trực tiếp đến sự đóng mở của khí khổng, hàm lượng nước trong lá đạt trạng thái bão hòa và thiếu bão hòa một ít (90 - 95%) thì quang hợp đạt cực đại, khi thiếu nước thì khí khổng đóng lại, sản phẩm quang hợp không được vận chuyển khỏi lá.
Ngoài ra, nước còn ảnh hưởng đến tốc độ và chiều hướng vận chuyển và phân bố các chất đồng hóa trong cây (Hoàng Minh Tấn và cs. Lạc là cây trồng cạn và có khả chịu hạn khá, nhưng nước vẫn là yếu tố ngoại cảnh có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất lạc. Theo Dunan Shufen (1998) [86], hạn ở thời kỳ gieo hạt sẽ làm cho lạc mọc không đều, nhưng hạn vào giai đoạn hình thành quả là nguy hiểm nhất, sau đó là giai đoạn giữa ra hoa, đậm tia, hình thành quả hạt. Độ ẩm đất thích hợp cho cây lạc sinh trưởng và phát triển lên khoảng 70 - 80% độ ẩm giới hạn đồng ruộng.
Điểm khủng hoảng nước của cây lạc cũng nằm trong khoảng thời gian từ ra hoa rộ đến hình thành hạt (Đoàn Thị Thanh Nhàn và cs.