MỞ ĐẦU 1. Đặt vẫn đề Chăn nuôi nước ta trong những năm gần đây đang trên đà phát triển khá mạnh cùng với nhiều ngành kinh tế khác, nghành chăn nuôi thú y từng bước được áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật nhằm đem lại nhiều thay đổi chất lượng và số lượng sản phẩm nghành, đáp ứng nhu cầu về thực phẩm của nhân dân góp phần đa dạng hóa nền kinh tế của nước ta ngày một phát triển. Nghành chăn nuôi nói chung và ngành chăn nuôi lợn chiếm một vị trí quan trọng, đó là nguồn cung cấp thực phẩn với khối lượng lớn và chất lượng thực phẩm tốt cho con người và nguồn cung cấp phân bón cho nghành trồng trọt, nguồn cung cấp các sản phẩm phụ da mớ… cho nghành công nghiệp chê biến thực phẩm. Để không ngừng nâng cao năng xuất, chất lượng sản đàn lợn các ngà khoa học đã nghiên cứu ra các giống sản xuất tốt, chế biến các loại thức ăn nghên cứu bổ sung chăm sóc nuôi dưỡng kết hợp với thức ănđầy đủ các chất dinh dưỡng cùng vitamin, và khoáng chất.
ngoài ra trong chăn nuôi thì công tác thú y không thể thiếu được. Tuy vậy trong chăn nuôi còn gặp nhiều trở ngại và hạn chế đó là: những thông tin khoa học, kỹ thuật chăn nuôi lợn chưa nhanh chóng, kịp thời đến người chăn nuôi. Những hiểu biết về dịch bệnh còn hạn chế. Vì vậy mà dịch bệnh vấn tường xuyên sảy ra trong đó có bệnh tiêu chảy lợn con.
Đây là bệnh truyền nhiễm cấp tính lây lan nhanh, nếu không điều tri kịp thời và đúng biện pháp, thì tỉ lệ chết sẽ rất cao gây thiệt hại lớn cho người chăn nuôi. Bệnh tiêu chảy chủ yếu do nhom vi khuẩn đường ruột E.coli gây ra. Do bộ máy tiêu hóa của lợn con còn chưa hoàn thiện nên dễ mắc bệnh. Một trông những nguyên nhân mắc bệnh là do thiếu vitamin b- complex, để hạn chế tác hại cần phải chăm sóc và bổ sung các loại thức ăn, 2 vitamin và khoáng chất đầy đủ và hợp lý trong khẩu phần ăn.
Bổ sung vitamin b-complex có tác dụng phòng và điều tri bệnh tiêu chảy lợn con. Để phần nào hiểu them việc bổ sung vitamin b-complex trong phồng bệnh tiêu chảy lợn con, tôi tiến hành thực hienj đề tài: “Nghiên cứu bổ sung vitamin B- complex cho lợn con từ 6 đến 60 ngày tuổi để nâng cao sức đề kháng phòng chống bệnh tiêu chảy tai trại lợn chăn nuôi Charoen Pokphand (CP) Bình Minh – Mỹ Đức – Hà Nội”.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài - Xác định mức độ ảnh hưởng của vitamin B-complex đến khả năng sinh trưởng và tỷ lệ nhiễm bệnh tiêu chảy. - Đánh giá hiệu lực của vitamin B-Complex đối với khả năng sinh trưởng lợn con. - Đánh giá hiệu lực của vitamin B-Complex đối với khả năng kháng bệnh tiêu chảy.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa về khoa học Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về vitamin B-complex và tác dụng trực tiếp của vitamin B-complex đến sinh trưởng, phát triển của động vật nói chung và gà nói riêng, có một số đóng góp mới cho khoa hoc. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học giúp người chăn nuôi hiểu về lợi ích ,ảnh hưởng tích cực của vitamin B-complex đến năng tăng trọng, tăng trưởng, khả năng sản xuất cũng như khả năng chống lại bệnh tiêu chảy ở lợn con qua các thời kỳ phát triển 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Một số đặc điêm của lợn 2.1 Kỹ thuật nuôi dưỡng lợn nái khi có chửa Cơ thể lợn mẹ trong thời gian có chửa thì sự tổng hợp vật chất được đẩy mạnh, còn quá trình oxy hóa thì giảm tương đối. Quá trình trao đổi chất và năng lượng tăng lên do sự đẩy mạnh các quá trình này ở cơ thể mẹ cũng như cơ thể phôi thai.
Đồng thời với quá trình trao đổi nhiệt là quá trình tích lũy các chất dinh dưỡng trong cơ thể mẹ tăng dần. Trong thời gian lợn nái chửa, cơ thể trao đổi chất rất mạnh, quá trình đồng hóa lớn hơn quá trình dị hóa. Trung bình khối lượng lợn nái tăng lên 15 - 20%, khoảng 60% khối lượng phôi thai tăng lên ở 20 - 30 ngày cuối của thời kỳ chửa. Qua nghiên cứu cho thấy rằng, điều kiện ngoại cảnh có ảnh hưởng rất lớn đến cơ thể lợn nái có chửa như nhiệt độ, ánh sáng, thời tiết khí hậu, chăm sóc nuôi dưỡng, mức độ dinh dưỡng… Cường độ và thời gian tác động của mỗi yếu tố nêu trên sẽ phản ánh lên các quá trình diễn ra trong cơ thể mẹ và cơ thể phôi thai trong tất cả các giai đoạn phát triển của nó.
Ví như nhiệt độ môi trường tăng cao sẽ làm giảm tỷ lệ thụ thai. Nếu tăng cao trong thời kỳ chửa cuối sẽ gây sảy thai, thai chết lưu hoặc tiêu thai. Độ ẩm môi trường cao cũng gây hại cho lợn nái nhất là trong trường hợp độ ẩm cao kết hợp với nhiệt độ cao. Khi xác định lượng thức ăn cho lợn nái chửa/ngày chúng ta cần chú ý các yếu tố sau: giống và khối lượng lợn nái chửa, giai đoạn chửa, thể trạng của lợn nái, tình trạng sức khỏe của lợn nái, nhiệt độ môi trường và chất lượng thức ăn.
Ví dụ như nái chửa kỳ II cho ăn nhiều hơn nái chửa kỳ I, lợn nái gầy cho ăn nhiều hơn nái bình thường, mùa đông khi nhiệt độ xuống dưới 150C thì cho lợn ăn nhiều hơn 0,3 - 0,5 kg thức ăn so với nhiệt độ 25 - 300C để tăng khả năng chống rét cho lợn. 4 Đối với lợn nái tơ chửa lần đầu, có thể cho ăn tăng hơn từ 10-15% vì ngoài cung cấp dinh dưỡng cho bào thai còn cần cho sự phát triển của cơ thể mẹ. Số bữa ăn/ngày: ngày cho ăn 2 bữa sáng, chiều. Cung cấp đủ nước sạch cho lợn nái chửa.
Thức ăn của lợn nái chửa có yêu cầu phối hợp nhiều loại thức ăn, mùi vị phải thơm ngon, không bị hôi thối, hư hỏng, thức ăn có phẩm chất tốt. Trước lúc lợn nái đẻ cần giảm số lượng thức ăn, nhưng cần duy trì đủ các chất dinh dưỡng bằng cách cho ăn các loại thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao. Không nên cho lợn nái ăn quá nhiều thức ăn vào 3-5 ngày đầu sau khi phối giống có chửa, kể cả lợn nái gầy. Vấn đề quan trọng trong công tác chăm sóc, quản lý lợn nái chửa là phòng bệnh sảy thai, nghĩa là cần phải làm tốt công tác bảo vệ thai, làm cho thai sinh trưởng phát triển bình thường, tránh các tác động cơ giới gây đẻ non hoặc gây sảy thai, nhất là trong giai đoạn chửa kỳ II.
Những nguyên nhân gây sảy thai có thể là nền chuồng hoặc sân chơi không bằng phẳng, mấp mô, làm cho lợn bị trượt ngã, cửa ra vào chuồng quá nhỏ làm cho lợn chen lấn xô nhau, do đánh đuổi lợn quá gấp, do tắm nước quá lạnh hoặc quá đột ngột. Tắm chải cho lợn chửa là điều rất cần thiết, có tác dụng làm sạch da, thông lỗ chân lông để tăng cường trao đổi chất, tuần hoàn, tạo cảm giác dễ chịu, lợn cảm thấy thoải mái kích thích tăng tính thèm ăn, phòng chống bệnh ký sinh trùng ngoài da. Ngoài ra còn tạo điều kiện gần gũi giữa người và lợn nái để thuận tiện cho việc nuôi dưỡng chăm sóc lợn nái khi đẻ. Việc tắm cho lợn chửa cần tiến hành hàng ngày, đặc biệt là mùa hè nóng bức, ngoài các tác dụng kể trên còn có tác dụng chống nóng cho lợn chửa.
5 Yêu cầu chuồng trại phải đảm bảo vệ sinh thú y, khô ráo thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông. Cần tạo không khí yên tĩnh, thoải mái cho lợn chửa nghỉ ngơi, dưỡng thai. Không gây tiếng ồn xáo trộn không cần thiết có ảnh hưởng xấu đến lợn. Mỗi nái chửa cần có một phiếu theo dõi về tình hình chửa như thời gian chửa, những biến cố xảy ra trong quá trình mang thai, nguy cơ sảy thai, tỷ lệ chết thai.
để có biện pháp xử lý đề phòng. Bên cạnh đó thì chúng ta phải chú trọng đến công tác thú y đối với lợn nái chửa. Từ 3-5 ngày trước ngày dự kiến đẻ, ô chuồng lợn nái cần được cọ rửa sạch, phun sát trùng bằng thuốc sát trùng Crezin 5% hoặc bằng loại thuốc sát trùng khác nhằm tiêu độc khử trùng chuồng lợn nái trước khi đẻ. Hàng ngày quan sát phát hiện những biểu hiện không bình thường của lợn, kiểm tra sức khỏe, đo thân nhiệt xem có nóng, sốt không.
Quy trình tắm ghẻ: thường xuyên phát hiện ghẻ để điều trị kịp thời. Ngoài ra, 14 ngày trước ngày dự kiến đẻ, tắm lần thứ nhất sau đó 7 ngày tắm ghẻ lần thứ 2. Đây là yêu cầu bắt buộc để dự phòng lợn mẹ bị ghẻ rồi lây truyền sang lợn con ngay từ sau sơ sinh. Cần tiêm vacxin E.coli cho lợn nái chửa vào lúc 6 tuần và 2 tuần trước khi đẻ, liều lượng: 2ml/con, tiêm bắp.
Lợn nái được đưa từ chuồng bầu sang chuồng đẻ trước từ 5 - 7 ngày so với ngày đẻ dự kiến.2 Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái nuôi con Mục đích của chăn nuôi lợn nái nuôi con là áp dụng các biện pháp khoa học để tăng sản lượng sữa mẹ, đảm bảo cho lợn mẹ có sức khỏe tốt. Lợn con sinh trưởng phát dục nhanh, đạt số con sau cai sữa và khối lượng cai sữa cao. Lợn nái chóng được phối giống trở lại sau khi tách con. 6 Thức ăn cho lợn nái nuôi con phải là những thức ăn ảnh hưởng tốt đến sản lượng và chất lượng sữa.
Không cho lợn nái nuôi con ăn các loại thức ăn thối mốc, biến chất, hư hỏng. Thức ăn hỗn hợp cho lợn nái nuôi con dùng trong chăn nuôi công nghiệp phải đảm bảo đủ protein, năng lượng và các thành phần vitamin, khoáng theo đúng tiêu chuẩn quy định như năng lượng trao đổi 3100 Kcal, protein 15%, Ca từ 0,9-1,0%, P từ 0,7%. - Lượng thức ăn cho lợn nái nuôi con: Trong quá trình nuôi con, lợn nái được cho ăn như sau: - Ngày cắn ổ đẻ: Cho lợn nái ăn ít thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (0,5kg) hoặc không cho ăn, nhưng cho uống nước tự do. - Sau ngày đẻ thứ 1, 2 và 3 cho thức ăn hỗn hợp với lượng thức ăn từ 1- 2-3 kg tương ứng.
- Ngày nuôi con thứ 4 đến ngày thứ 7: cho ăn 4 kg thức ăn hỗn hợp/nái/ngày.