CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Danh pháp và phân loại các tổn thương u tuyến quy ước ở đại – trực tràng Những tổn thương tiền ung thư (mã 0 – lành tính và mã 1 – không xác định, mã 2 – ung thư tại chỗ, theo phân loại quốc tế về ung bướu) bao gồm: Bảng 1. Phân loại mô bệnh học u tuyến quy ước đại – trực tràng theo Tổ chức Y tế Thế giới năm 2019 [25]. Loại mô bệnh học Mã ICD U tuyến ống, độ thấp 8211/0* U tuyến ống, độ cao 8211/2* U tuyến nhánh, độ thấp 8261/0* U tuyến nhánh, độ cao 8261/2* U tuyến ống – nhánh, độ thấp 8263/0* U tuyến ống – nhánh, độ cao 8263/2* U tuyến tiến triển 8263/2* Các mã được dánh dấu * đã được ARC/WHO cho ICD – O phê duyệt tại cuộc hợp vào tháng 4 năm 2019 [25].
Tổng quan về u tuyến quy ước đại – trực tràng 1. Dịch tễ học u tuyến quy ước đại – trực tràng U tuyến quy ước chiếm tỷ lệ đến 65% tất cả các loại polyp ở đại - trực tràng. Sự phổ biến của polyp tuyến phù hợp với tỷ lệ nền của CRC trong dân số và thay đổi theo tuổi, giới tính, địa lý và tiền sử gia đình. U tuyến có tỷ lệ cao ở nhóm dân số nguy cơ cao với CRC [14], tần suất mắc cao nhất ở Bắc Mỹ, Tây Âu và Úc, ở đó u tuyến được phát hiện hơn 50% hoặc nhiều hơn ở người cao tuổi [32] hoặc tỷ lệ thấp hơn khoảng 20% trong các chương trình sàng lọc.
Trong nhóm nguy cơ thấp với CRC qua khám nghiệm loạt tử thi thì tỷ lệ lưu hành của u tuyến khoảng thấp hơn 12%, trong khi hầu hết các quần thể nguy cơ trung bình và nguy cơ cao với CRC tỷ lệ u tuyến từ 30% đến 40%. Ở vùng có nguy cơ cao, hơn hai phần ba dân số trên 65 tuổi chứa u tuyến đại - trực tràng [14], [63], [77]. Ngoài độ tuổi thì các yếu tố nguy cơ liên quan đến u tuyến là chế độ ăn ít xơ, nhiều chất béo, hút thuốc lá, béo phì, rượu, có tiền sử gia đình có bệnh lý ung thư đại trực tràng hoặc ung thư bệnh lý phụ khoa, xơ vữa động mạch, vô sinh (ở nữ) và độ tuổi [30]. Tỷ lệ mắc bệnh tăng theo độ tuổi, 15% đến 30% sau 50 tuổi, 40 đến 50% sau 60 tuổi [14].
Độ tuổi là yếu tố quan trọng nhất quyết định tỷ lệ lưu hành của u tuyến. Khi tiến hành nghiên cứu sàng lọc ở người trưởng thành, không triệu chứng đường tiêu hóa thì 20% đến 53% người trên 50 tuổi có ít nhất một polyp tuyến, 3,4% đến 7,6% có u tuyến tiến triển đến ác tính [46], [77]. Giới tính và chủng tộc cũng liên quan tỷ lệ mắc u tuyến, một loạt nội soi chỉ ra rằng nam giới có nguy cơ mắc ung thư biểu mô tăng gấp 1,5 lần so với phụ nữ cùng độ tuổi phù hợp với các quan sát trước đó trong khám nghiệm tử thi [28], [83]. Nam giới cũng có tỷ lệ mắc u tuyến nguy cơ cao hay u tuyến có độ mô học tiến triển cao hơn 1,5 lần phụ nữ.
Một nghiên cứu cơ sở dữ liệu lớn được thu thập từ 67 địa điểm thực hành tiêu hóa ở Hoa Kỳ cho thấy tỷ lệ polyp lớn hơn 9 mm cao hơn ở người Mỹ gốc Phi trải qua sàng lọc nội soi so với người da trắng cùng độ tuổi. các nghiên cứu khác cho thấy tỷ lệ có u tuyến khác nhau giữa người Mỹ gốc Phi và gốc Tây Ban Nha so với người da trắng [45]. Định nghĩa u tuyến quy ước đại – trực tràng U tuyến quy ước đại – trực tràng là tổn thương tiền ung thư, được định nghĩa bởi sự hiện diện của biểu mô nghịch sản [25]. Về mặt mô bệnh học đặc trưng bởi nhân lớn, tăng sắc, hình thoi và giả tầng, mất cực tính.
thể mức độ thấp hay độ cao, tùy vào mức độ phức tạp của cấu trúc, lan rộng của giả tầng nhân và mức độ nghiêm trọng của bất thường mô bệnh học của nhân [14]. Đối với những u tuyến lớn hơn hoặc bằng 1 cm, nhiều hơn 3, nghịch sản độ cao, dạng u tuyến nhánh thì nguy cơ phát triển thành ung thư biểu mô tuyến gấp 3 đến 5 lần [54]. Phân loại mô bệnh học u tuyến quy ước đại – trực tràng Ba loại của u tuyến quy ước đại trực – tràng có thể được phân biệt dựa trên cấu trúc nhánh hay không nhánh của chúng. Về mô bệnh học dựa vào 2 đặc điểm cấu trúc vi thể và mức độ nghịch sản, u tuyến quy ước đại trực tràng được chia làm 3 loại: U tuyến ống (Tubular adenoma – TA), trong đó trên 75% đến 80% là cấu trúc ống; U tuyến nhánh (Villous adenoma – VA), trong đó trên 75% đến 80% là cấu trúc nhánh, U tuyến ống – nhánh (Tubulovillous adenoma – TVA) 25% đến 75% là cấu trúc nhánh.
Mặc dù được định nghĩa như thế nhưng vẫn có sự thay đổi tùy thuộc vào người quan sát trong việc định lượng cấu trúc nhánh trong u tuyến, ngay cả các nhà giải phẫu bệnh có kinh nghiệm về mô bệnh học đường tiêu hóa. Hơn nữa định nghĩa về cấu trúc nhánh cũng không được thiết lập đặc biệt. Một số tác giả đã định nghĩa cấu trúc nhánh là một cấu trúc như nhung mao cao gấp 2 lần so với biểu mô niêm mạc đại tràng xung quanh. Tuy nhiên định nghĩa này vẫn tùy ý và không được sự đồng thuận nhiều bởi các nhà nghiên cứu đánh giá ý nghĩa tiên lượng của hình thái này.
Tương tự như vậy, hiện diện 25% cấu trúc nhánh được phân loại dạng u tuyến ống nhánh cũng là một sự tùy ý. Cấu trúc nhánh thường liên quan đến nghịch sản độ cao và khả năng xâm lấn [14], [25], [54], [78]. U tuyến ống (TA) là loại phổ biến nhất của u tuyến quy ước, chiếm tỷ lệ khoảng 90%, cấu trúc hốc tuyến bình thường phần lớn được bảo tồn, có thể. thay đổi kéo dài của các hốc tuyến và tăng số lượng tuyến.
Biểu mô có nhân lớn, tăng sắc, giả tầng, mất phân cực cùng với giảm số lượng tế bào đài, tế bào hấp thu. Được đặc trưng bởi hệ thống mạng lưới phức tạp ống tuyến, chụm lại hoặc phân nhánh rộng, nhưng không mở rộng đến lớp cơ niêm (Hình 1. U tuyến nhánh chiếm tỉ lệ khoảng 1%, bao gồm các tuyến dài, trong giống như ngón tay, đặc trưng hình lá, nhô ra từ mô đệm tới lớp bề mặt. Chiều dài của các nhánh ít nhất gấp hai lần chiều dày của niêm mạc đại – trực tràng bình thường.
Mật độ của các nhánh khác nhau, tăng theo kích thước của u tuyến (Hình 1. U tuyến ống – nhánh mang đặc điểm hỗn hợp của u tuyến ống và u tuyến nhánh, trong đó 25% đến 75% là cấu trúc nhánh. Trong tất cả các loại u tuyến quy ước, u tuyến ống chiếm tỷ lệ khoảng 80% đến 86%, dạng ống – nhánh khoảng 8% đến 16%, cũng có y văn ghi nhận từ 5- 10% , dạng nhánh khoảng 3% đến 16%, có y văn ghi nhận chỉ khoảng 1%, [39], [57]. U tuyến ống thường nhỏ, kèm nghịch sản nhẹ.
Cấu trúc nhánh thường gặp ở các u tuyến kích thước lớn và thường liên quan đến nghịch sản độ cao. Trong tất cả các polyp tuyến, nghịch sản độ cao được tìm thấy trong 5% đến 10%, carcinôm tuyến xâm nhập ở mức 5% đến 7% [39], [53], [72]. Các loại nghịch sản độ cao thường gặp hơn ở các u tuyến có kích thước lớn hơn [57] và u tuyến với nghịch sản độ cao có nhiều khả năng chứa các ổ xâm nhập.1 U tuyến ống (H&E, x40) [71] Nguồn: “Morson and Dawson’s gastrointestinal pathology (2013)” Hình 1. U tuyến nhánh (H&E, x100) Nguồn: “Neoplastic Gastrointestinal Pathology (2015)” [43] .3 U tuyến ống – nhánh (H&E, x40).
Nguồn: “Neoplastic Gastrointestinal Pathology (2015)” [43]. Độ mô học của u tuyến quy ước đại – trực tràng Sự hình thành u tuyến là kết quả hoạt động tăng sản kèm nghịch sản của biểu mô ruột. Nghịch sản có thể độ thấp đến độ cao và có thể tìm thấy cả những ổ carcinôm trong niêm mạc. Để phân độ nghịch sản trên mô bệnh học người ta dựa vào đặc điểm nhân và/ hoặc đặc điểm cấu trúc tuyến.
Nghịch sản độ thấp: nhân tăng sắc, kéo dài không quá ½ chiều cao biểu mô, tương đối đồng dạng, có giả tầng nhưng vẫn còn giữ cực tính ở đỉnh, tỷ lệ nhân trên tế bào chất tăng, thường có bào tương ưa kiềm nhẹ, lót các khe tuyến hoặc các vi nhú với sự phân bố cấu trúc tương đối đồng đều, không có sự phức tạp về cấu trúc. Hạt nhân thường không rõ. Hoạt động phân bào thay đổi. Chết tế bào thường thấy ở đáy tuyến (hình 1.
Nghịch sản độ cao: tỷ lệ nhân trên tế bào chất tăng, sự phân tầng các tế bào đến bề mặt của các tuyến, nhân biểu hiện mất cực tính, thường tròn hơn, nhiễm sắc chất bọng, hạt nhân rõ, đa dạng, tăng sinh hơn ½ chiều cao biểu mô. Tuyến có cấu trúc phức tạp như dạng sàng hay các ống tuyến đấu lưng nhau. Trong lòng tuyến có các vi nhú hoặc hoại tử hiện diện, có nhiều phân bào bất thường. Những tế bào nghịch sản vẫn còn giới hạn trong màng đáy của đại trực tràng (hình 1.4 U tuyến ống, nghịch sản độ thấp (HEx100).
Nguồn: “Morson and Dawson’s gastrointestinal pathology (2013)” [71] Hình 1.5 U tuyến ống, nghịch sản độ cao: nhân tế bào biều mô tăng sắc, giả tầng, cao quá ½ cấu trúc biểu mô (H&E, x100). Nguồn: “Morson and Dawson’s gastrointestinal pathology (2013)” [71]. Những thay đổi biểu mô trong u tuyến quy ước đại - trực tràng được phân loại thành nghịch sản độ thấp và nghịch sản độ cao theo Tổ chức Y tế Thế giới năm 2019 [25] như đã trình bày. Giữa các nhà mô bệnh học phương Tây và Châu Á khi dựa trên mô bệnh học, ngay cả phân loại giữa nghịch sản độ thấp và độ cao vẫn còn tranh cãi.
Để chính xác các tiêu chí được sử dụng để phân biệt những u tuyến này nên bắt nguồn từ dữ liệu khách quan chẳng hạn như dữ liệu di truyền, giải trình tự gen. Hầu hết các nhà giải phẫu bệnh Phương Tây không sử dụng thuật ngữ carcinôm trong niêm mạc ở tổn thương niêm mạc của đường tiêu hóa đặc biệt là đại - trực tràng và coi carcinôm trong niêm mạc đã bao gồm trong nghịch sản độ cao [25]. Hầu hết không khuyến khích sử dụng thuật ngữ carcinôm trong niêm mạc vì được cho là có thể dẫn đến nhầm lẫn, điều trị quá mức không cần thiết [6].