ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam là một trong những nước có tính đa dạng sinh học (ĐDSH) cao nhất thế giới với nhiều loài động, thực vật hoang dã quý hiếm và các hệ sinh thái đặc trưng. Khí hậu Việt Nam có sự khác biệt từ vùng cận xích đạo đến vùng cận nhiệt đới, cộng với sự đa dạng về địa hình đã tạo nên sự đa dạng về thiên nhiên, vì thế tạo nên khu hệ động thực vật Việt Nam có tính đa dạng sinh học cao. Trong giới động vật, côn trùng là lớp phong phú nhất, chúng đóng vai trò rất to lớn trong sự sinh tồn và phát triển của sinh giới. Song song với sự phong phú và đa dạng đó thì cuộc sống của côn trùng cũng khá phức tạp.
Một phần nhỏ các loại côn trùng đã gây ra tác hại to lớn cho ngành nông nghiệp và con người như: Phá hoại mùa màng, truyền bệnh cho người, gia súc, gia cầm, bên cạnh đó thì côn trùng cũng có những mặt lợi ích như: Côn trùng ăn các chất hữu cơ chết đóng vai trò vệ sinh và tham gia tích cực vào quá trình tái tạo đất, côn trùng thụ phấn cho các loài thực vật làm tăng năng suất cây trồng tạo ra những dòng tiến hóa làm cho thực vật ngày càng phong phú và đa dạng hơn, côn trùng còn có thể cung cấp cho con người những sản phẩm quý như tơ tằm, mật ong, cánh kiến đỏ…Vẻ đẹp thẩm mỹ do côn trùng mang lại đã cuốn hút các nhà khoa học và những người yêu thích thiên nhiên với mục đích là tìm hiểu và khám phá về thế giới sống động còn nhiều bí ẩn của chúng. Đại diện cho nhóm côn trùng này phải kể đến bộ Cánh cứng (Coleoptera) và bộ Cánh vẩy (Lepidoptera) Trong lớp Côn trùng, bộ Cánh vẩy là bộ rất đa dạng và phong phú.Trong đó họ Bướm phượng (Papilionidae) là họ có giá trị kinh tế thẩm mỹ rất lớn vì thế hoạt động buôn bán các loài bướm diễn ra rất sôi động. Có những người đã bỏ ra hàng nghìn Đôla để sưu tập chúng, do đó người dân cũng rất hăng hái vào rừng bẫy bắt chúng về bán. Vì vậy nguy cơ tác động tiêu cực đối với các loài bướm phượng, đặc biệt là các loài có tên trong sách đỏ Việt Nam, các loài có giá trị thẩm mỹ là không thể tránh khỏi.
1 Vườn Quốc gia Pù Mát huyện Con Cuông tỉnh Nghệ An là một khu rừng đặc dụng ở phía tây tỉnh Nghệ An được đánh giá có tính đa dạng sinh học cao. Tại đây đã có một số cơ quan nghiên cứu, tổ chức quốc tế và các trường đại học nghiên cứu về côn trùng. Nhưng hiện nay các loài côn trùng có tên trong Sách Đỏ Việt Nam thì chưa được nghiên cứu cụ thể và biện pháp quản lý chưa được chú trọng. Để bảo tồn các loài côn trùng có tên trong Sách Đỏ Việt Nam tại Vườn Quốc gia Pù Mát huyện Con Cuông tỉnh Nghệ An thì cần có nghiên cứu cơ bản về khu phân bố, nơi cư trú, đặc điểm sinh học, sinh thái của từng loài cũng như các loài cây thức ăn của chúng.
Từ thực tiễn trên nên tôi đã chọn đề tài “Nghiên cứu biện pháp quản lý các loài Bướm Phượng (Papilionidae) tại vườn Quốc Gia Pù Mát huyện Con Cuông tỉnh Nghệ An” 2 CHƢƠNG I TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Việc nghiên cứu đối với hầu hết các nhóm côn trùng gặp nhiều khó khăn, một phần do có kích thước nhỏ bé, sống trong không gian hạn hẹp và có cuộc sống ngắn ngủi. Tuy nhiên các loài bướm đặc biệt là pha trưởng thành lại có sự hiện diện khá đặc trưng, dễ quan sát thấy do sự bay lượn của chúng. Chúng có sự lựa chon sinh cảnh riêng nên bướm thường được xem là sinh vật chỉ thị quan trọng đối với đa dạng sinh học vì vậy bướm là đối tượng thích hợp để nghiên cứu. Tình hình nghiên cứu bƣớm trên thế giới Bướm thuộc bộ Cánh vẩy (Letidoptera), là nhóm côn trùng được rất nhiều người quan tâm.
Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có các công trình nghiên cứu về bướm, đặc biệt là các nước như Anh, Pháp, Mỹ…Các công trình nghiên cứu bướm không chỉ giới hạn về thành phần loài mà còn tập trung nhiều vào vấn đề sinh thái, sinh học và giải pháp bảo tồn. Nghiên cứu mối quan hệ giữa bướm và môi trường là một trong những lĩnh vực được các nhà sinh thái và sinh học quan tâm nhiều nhất. Ngày nay môi trường sinh sống của các loài sinh vật nói chung, côn trùng và các loài bướm nói riêng đang bị tàn phá hơn bao giờ hết. Nguyên nhân môi trường sống của sinh vật bị tàn phá là do tác động của con người làm cho rừng bị thu hẹp lại.
Côn trùng là loài sinh vật có trong lượng và kích thước nhỏ bé nhưng sinh khối của chúng lại rất lớn. Chúng là nguồn thức ăn dồi dào để duy trì và nuôi sống rất nhiều loài động vật khác như chim, lưỡng cư, bò sát, nhện và các loài côn trùng ăn thịt khác. So với các nhóm côn trùng khác bướm là nhóm được nghiên cứu nhiều nhất do chúng có kích thước cơ thể lớn hơn và dễ định loại so với các loài côn trùng khác, gần gũi với con người và nhạy cảm với điều kiện sống. 3 Bướm là nhóm động vật đa dạng phong phú bắt gặp ở hầu hết các môi trường sinh thái cạn (New, 1997).
Bướm gần gũi với con người và được ưa chuộng vì giá trị thẩm mỹ của chúng, hiện nay nhu cầu sử dụng bướm cho mục đính khoa học cũng như các mục đích khác là rất lớn. Mỗi năm hàng triệu mẫu bướm được thu thập và mua bán trên phạm vi toàn thế giới. Bướm dung để trang trí làm quà lưu niệm, làm bộ sưu tập ở nhiều nơi trên thế giới nhất là Châu Âu, Bắc Mỹ và Nhật Bản. Ngoài ra bướm và một số côn trùng khác còn được nhập khẩu từ các nước nhiệt đới được sử dụng để thả vào vườn thú, công viên phục vụ nhu cầu tham quan du lịch, giải trí và giáo dục.
Vì vậy có nhiều nước đã thành công trong việc nuôi và xuất khẩu bướm như Đài Loan, Mỹ…Do vậy việc nuôi các loài bướm dặc biệt là các loài bướm có giá trị về thẩm mỹ cũng như khoa học là việc cần làm nhằm bảo tồn các loài bướm quý hiếm. Các loài bướm rất dễ bị tổn thương vì phân bố hẹp đời sống gắn liền với rừng, vì vậy muốn bảo tồn các loài bướm chúng ta cần phải bảo vệ rừng. Thomas (1991) nghiên cứu bướm ở Co-xta Ri-ca đã xác định các loài bướm phân bố hẹp về địa lý có khả năng sống ở môi trường bị thay đổi kém hơn so với các loài phân bố rộng. Sự giới hạn của các loài này ở các sinh cảnh chưa bị thay đổi chỉ ra rằng việc phá rừng có ảnh hưởng bất lợi cho sự tồn tại của chúng.
Thomas et Mallorie (1985) cho rằng đa dạng loài bướm có quan hệ với tỷ lệ độ che phủ thực vật mặt đất, nhiều loài bướm sống gắn liền với các giai đoạn diễn thế cụ thể của rừng, vì vậy, chiến lược để bảo tồn bướm tốt nhất là bảo vệ nhiều loại sinh cảnh nếu có thể. Theo Schappert (2000), để bảo tồn bướm cũng như bảo tồn các loài động vật hay thực vật khác, điều cần thiết đòi hỏi trước tiên giải quyết được ba vấn đề: thứ nhất, cần biết vị trí của chúng, mối quan hệ của chúng với các loài gần gũi hoặc các loài khác xung quanh chúng; thứ hai, cần biết phân bố 4 địa lý và điều kiện sinh thái như yêu cầu về sinh cảnh hay sự ưa thích sinh cảnh của loài; cuối cùng là cần biết càng nhiều càng tốt về sinh học của loài. Họ Bướm phượng (Papilionidae) được quan tâm nhiều hơn so với các họ Bướm khác trong nghiên cứu về sinh học và bảo tồn. Họ bướm này được xem như là “người đại diện” cho tính đa dạng của bướm (Vane-Wright, 2005).
Họ Papilionidae có nhiều loài bướm quý, hiếm, trong đó có một số loài đang trong tình trạng bị đe doạ ở mức độ nguy cấp. Ở Srilanka, họ Papilionidae được sử dụng như là đại diện cho toàn bộ tính đa dạng bướm ở Sri Lanka (Vane- Wright, 2005). Nhiều loài có kích thước lớn, màu sắc đẹp, có giá trị thẩm mỹ, luôn hấp dẫn những người sưu tầm. Họ Bướm Phượng được các tổ chức bảo tồn quốc tế quan tâm và hầu hết các loài bướm có trong danh lục của CITES và IUCN thuộc họ Bướm Phượng (Collins et Morris, 1985; New et Collins, 1991).
Nghiên cứu bƣớm ở Việt Nam Đầu những năm của thế kỷ XX, bướm Việt Nam được nghiên cứu khá nhiều. Trong đó, công trình đầu tiên nghiên cứu về bướm ở Việt Nam là cuốn “Côn trùng Đông Dương” (Dubois et Vitalis, 1919) với danh lục 611 loài, đây cũng là danh lục bướm đầu tiên của các quốc gia vùng Đông Dương (Việt Nam, Lào và CamPuChia). Sau đó Metaye (1957) đã xác định danh lục 454 loài bướm Việt Nam. Đặc biệt trong những năm gần đây có nhiều công trình khảo sát về bướm do trung tâm nhiệt đới Việt- Nga tiến hành tại khu bảo tồn thiên nhiên và VQG như: Vườn Quốc gia Ba Bể (1996-1997), Ba Vì (1996), Hoàng Liên (1998-2000), Tam Đảo (2000-2001)… Kết quả điều tra côn trùng Miền Bắc Việt Nam (Viện Bảo vệ Thực vật, 1976) với sự tham gia của các nhà côn trùng học hai nước Trung Quốc và Việt Nam, đã xác định 181 loài thuộc 9 họ bướm.
Trong các công trình này chủ yếu là xác định các loài côn trùng gây hại. Sau đó là công trình về điều tra cơ bản côn trùng miền Bắc Việt Nam từ năm 1960 đến 1970 (Mai Phú Quí et al., 1981) đã xác định danh lục 161 loài thuộc 5 họ bướm. 5 Ở Miền Trung Việt Nam có một số nghiên cứu về phân bố bướm theo đai độ cao cho thấy đa dạng về loài và phong phú của các loài trong quần xã bướm ở đai cao thấp hơn so với ở đai thấp (Vũ Văn Liên, 2005). Có rất nhiều công trình nghiên cứu về bướm đã được tiến hành từ những năm 1990 của thế kỷ XX.
Các khảo sát về bướm được thực hiện ở các Vườn Quốc gia và Khu Bảo tồn Thiên nhiên. Các nhà côn trùng nước ngoài nghiên cứu bướm ở Việt Nam nhiều nhất đến từ Nhật Bản, Liên Bang Nga, Cộng hoà Séc và một số quốc gia khác. Ở Việt Nam, các nghiên cứu và khảo sát về bướm tập trung nhiều ở Trung tâm Nhiệt đới Việt-Nga và Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật.