Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Việt Nam được ghi nhận là một trong những quốc gia có độ đa dạng sinh học cao với các hệ sinh thái đặc trưng và khu hệ động thực vật phong phú trải dài từ vùng cận xích đạo đến vùng cận nhiệt đới. Trong giới động vật, lớp Côn trùng (Insecta) chiếm ưu thế lớn về số lượng cá thể cũng như thành phần loài, giữ vai trò quan trọng trong việc cân bằng sinh thái, thụ phấn cho thực vật và phân hủy chất hữu cơ để tái tạo đất. Trong bộ Cánh vẩy (Lepidoptera), họ Bướm phượng (Papilionidae) là nhóm côn trùng có kích thước cơ thể lớn, màu sắc rực rỡ và giá trị thẩm mỹ cao. Hoạt động trao đổi, buôn bán tiêu bản bướm phượng trên thị trường quốc tế và nội địa phục vụ sưu tập, trang trí và du lịch đã dẫn tới tình trạng săn bắt quá mức ngoài tự nhiên, đe dọa nghiêm trọng đến các loài quý hiếm có tên trong Sách Đỏ Việt Nam và các công ước quốc tế.

Vườn Quốc gia Pù Mát (thuộc địa bàn huyện Con Cuông, Tương Dương và Anh Sơn, tỉnh Nghệ An) là khu rừng đặc dụng vùng Bắc Trường Sơn sở hữu mức độ đa dạng sinh học cao. Mặc dù một số cơ quan nghiên cứu và chuyên gia quốc tế đã tiến hành điều tra côn trùng tại đây, các dẫn liệu chuyên sâu về hiện trạng phân bố, đặc điểm sinh học, sinh thái và biện pháp quản lý sinh cảnh đối với các loài Bướm phượng nguy cấp, quý hiếm vẫn còn khoảng trống lớn. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn trên, đề tài khóa luận "Nghiên cứu biện pháp quản lý các loài Bướm Phượng (Papilionidae) tại Vườn Quốc Gia Pù Mát huyện Con Cuông tỉnh Nghệ An" được tác giả Ngô Đức Đoàn thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Nguyễn Thế Nhã tại Khoa Quản lý Tài nguyên rừng và Môi trường.

Văn bản xác định hệ thống mục tiêu nghiên cứu cụ thể như sau:

  1. Mục tiêu chung: Góp phần bảo tồn các loài côn trùng nói chung và các loài Bướm phượng nói riêng tại Vườn Quốc gia Pù Mát.
  2. Mục tiêu cụ thể:
    • Mục tiêu 1: Xác định được tên và đặc điểm sinh thái sinh học của các loài Bướm phượng tại Vườn Quốc gia Pù Mát.
    • Mục tiêu 2: Đưa ra được đề xuất biện pháp quản lý sinh cảnh, đặc biệt là quản lý nguồn thức ăn của các loài Bướm phượng tại Vườn Quốc gia Pù Mát.

Nhiệm vụ nghiên cứu được phân định thành 4 nội dung trọng tâm:

  1. Xác định danh mục các loài Bướm phượng tại Vườn Quốc gia Pù Mát.
  2. Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái cơ bản của một số loài Bướm phượng tại khu vực nghiên cứu.
  3. Nghiên cứu đặc điểm sinh cảnh và cây thức ăn của các loài Bướm phượng.
  4. Đề xuất biện pháp bảo tồn và phát triển các loài Bướm phượng tại Vườn Quốc gia Pù Mát.

Phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các loài bướm thuộc họ Bướm phượng (Papilionidae), trọng tâm là các loài nguy cấp, quý hiếm có giá trị bảo tồn và thẩm mỹ cùng hệ thực vật làm thức ăn cho các pha phát triển của chúng.
  • Không gian nghiên cứu: Khu vực khe Kèm và khe Bu thuộc Vườn Quốc gia Pù Mát, tỉnh Nghệ An.
  • Thời gian nghiên cứu: Khảo sát thực địa được tiến hành từ ngày 14/02/2011 đến ngày 15/04/2011.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận kế thừa các công trình nghiên cứu về phân loại và sinh thái bướm trên thế giới và tại Việt Nam. Về mặt quốc tế, tác giả dựa trên các luận điểm của New (1997), Thomas (1991), Thomas & Mallorie (1985), Schappert (2000), Collins & Morris (1985) và Vane-Wright (2005) về vai trò sinh vật chỉ thị của bướm, mối quan hệ giữa độ che phủ thảm thực vật với tính đa dạng loài, cùng ba yêu cầu then chốt trong bảo tồn côn trùng: phân loại học, điều kiện sinh thái sinh cảnh và sinh học phát triển. Về mặt trong nước, đề tài tổng hợp dẫn liệu từ các công trình kinh điển và điều tra cơ bản của Dubois & Vitalis (1919), Metaye (1957), Viện Bảo vệ Thực vật (1976), Mai Phú Quí và cộng sự (1981), điều tra bộ Cánh phấn của Monastyrskii & Nguyễn Văn Quảng (1998, 2001) và phân bố đai cao của Vũ Văn Liên (2005). Khung pháp lý và phân hạng bảo tồn được đối chiếu dựa trên Sách Đỏ Việt Nam (2007), Phụ lục Công ước CITES (2006) và Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ.

Phương pháp nghiên cứu thực địa áp dụng kỹ thuật điều tra theo tuyến kết hợp điểm quan sát cố định:

  • Tuyến điều tra: Được thiết lập cắt ngang qua các dạng địa hình và sinh cảnh đặc trưng (ven suối, thung lũng, trảng cỏ, rừng thứ sinh ven nương rẫy, rừng phục hồi, rừng nguyên sinh). Tổng cộng có 3 tuyến khảo sát với 30 điểm điều tra:
    • Tuyến 1 (Khe Kèm): Chiều dài 4.400 m (4,4 km), gồm 11 điểm điều tra; tọa độ xuất phát từ Trạm Quản lý bảo vệ rừng Khe Kèm (18°32'18,6"N - 104°25'08,2"E), đi dọc khe Kèm vào khu du lịch Thác Kèm, kết thúc tại tọa độ 18°56'17"N - 104°46'53"E.
    • Tuyến 2 (Khu vực Ban quản lý VQG Pù Mát): Chiều dài 3.500 m (3,5 km), gồm 10 điểm điều tra; bắt đầu từ Quốc lộ 7A qua khu hành chính, vườn thực vật và kết thúc tại làng Ăn.
    • Tuyến 3 (Khe Bu): Chiều dài 5.000 m (5,0 km), gồm 9 điểm điều tra; xuất phát từ Trạm Quản lý bảo vệ rừng Khe Bu (19°02'28"N - 104°44'08,10"E), hướng về phía núi Phu Lon và khe Choãng, tọa độ điểm cuối tại 19°00'39"N.
  • Dụng cụ và kỹ thuật thu mẫu ngoài thực địa:
    • Vợt bướm: Miệng vợt hình tròn đường kính 35-40 cm, túi lưới bằng sợi tổng hợp hoặc vải tuyn trắng có chiều dài đáy chóp bằng 1,5-2 lần đường kính miệng; cán vợt bằng gỗ hoặc ống nhựa nhẹ dài 1-1,4 m. Thao tác vợt được thực hiện bằng cách đón đầu hướng bay, lia ngang tầm nhanh và xoay vuông góc miệng vợt để bướm không bay ngược ra ngoài; khi bắt mẫu chỉ cầm vào phần ngang thân, tránh chạm vào cánh để không làm rụng phấn.
    • Lọ giữ bướm sống: Lọ nhựa tròn đường kính 20 cm, cao 25 cm, miệng bịt vải màn thoáng khí.
    • Bao giấy giữ mẫu: Giấy gấp chéo hình tam giác giữ ẩm, kích thước phù hợp với sải cánh từng mẫu vật, mỗi bao chứa một cá thể kèm ghi chú thời gian, địa điểm và thời tiết.
  • Kỹ thuật xử lý và tạo tiêu bản mẫu:
    • Mẫu thu thập được chuyển về căng trên bàn ép gỗ hoặc tấm xốp mịn kích thước 30 x 25 x 2 cm có khía rãnh vừa thân bướm.
    • Dùng kim côn trùng xuyên qua đốt ngực trước để cố định thân; căng hai cánh sang hai bên sao cho mép sau cánh trước vuông góc với thân mẫu vật; cố định cánh và râu đầu bằng băng giấy và kim cắm viền.
    • Mẫu được phơi khô hoặc sấy từ 4-5 ngày để chống nấm mốc; sau khi khô, dùng kim cắm thẳng góc qua đốt ngực giữa từ phía lưng (tỷ lệ 1/3 chiều dài kim nhô lên phía trên, 2/3 thân kim nằm phía dưới bụng).
  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp kế thừa từ hồ sơ quản lý rừng, niên giám thống kê huyện, tài liệu chuyên ngành của Phòng Khoa học VQG Pù Mát; dữ liệu sơ cấp thu thập qua 4 biểu mẫu điều tra thực địa (Phiếu điều tra tuyến, Biểu thành phần loài, Biểu loài ưu tiên bảo tồn, Biểu thống kê cây thức ăn).

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Tổng quan nghiên cứu

Chương I trình bày hệ thống tài liệu tổng quan về tình hình nghiên cứu bướm trên phạm vi quốc tế, tại Việt Nam và trực tiếp tại khu vực Vườn Quốc gia Pù Mát. Trên thế giới, các công trình nghiên cứu bộ Cánh vẩy không chỉ dừng lại ở phân loại hình thái mà tập trung sâu vào mối quan hệ giữa sinh vật và sinh cảnh, diễn thế rừng cũng như kỹ thuật nhân nuôi bảo tồn (đặc biệt là mô hình nuôi thả bướm phục vụ du lịch và xuất khẩu tại Đài Loan, Mỹ). Họ Bướm phượng (Papilionidae) được xem là nhóm đại diện chỉ thị cho tính đa dạng sinh học của côn trùng cạn.

Tại Việt Nam, lịch sử nghiên cứu ghi nhận các mốc quan trọng: công trình "Côn trùng Đông Dương" của Dubois & Vitalis (1919) với danh lục 611 loài; công bố của Metaye (1957) với 454 loài bướm; chương trình điều tra côn trùng miền Bắc giai đoạn 1960-1970 và 1976 ghi nhận từ 161 đến 181 loài; các khảo sát chuyên sâu tại các khu rừng đặc dụng Tam Đảo, Ba Bể, Ba Vì, Hoàng Liên, Phong Nha - Kẻ Bàng của Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga và Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật. Riêng tại VQG Pù Mát, nghiên cứu của Monastyrskii và Nguyễn Văn Quảng (1998, 2001) đã ghi nhận 293 loài bướm và bổ sung 12 loài; nghiên cứu của Mike Hill (2011) ghi nhận 94 loài thuộc hai họ bướm đêm Saturniidae và Sphingidae. Tác giả chỉ ra rằng các công trình trước đây tại Pù Mát chủ yếu tập trung vào lập danh lục chung, chưa đánh giá chi tiết tình trạng phân bố và biện pháp bảo vệ nhóm loài có tên trong Sách Đỏ Việt Nam.

Chương II: Đặc điểm của khu vực nghiên cứu

Chương II mô tả toàn diện điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tài nguyên sinh vật tại khu vực nghiên cứu:

  • Điều kiện tự nhiên: Vườn Quốc gia Pù Mát nằm ở tọa độ 18°46' - 19°12' Vĩ độ Bắc, có 61 km đường biên giới giáp Lào, trải rộng trên 3 huyện Anh Sơn, Con Cuông và Tương Dương với vùng lõi 94,4 ha và vùng đệm 86.000 ha thuộc 16 xã. Địa hình thuộc dải Trường Sơn Bắc có độ dốc lớn, độ cao dao động từ 200 m đến 1.841 m (đỉnh núi Pù Mát), trong đó 90% diện tích nằm ở độ cao dưới 1.000 m. Khu vực có 7.057 ha núi đá vôi. Khí hậu nhiệt đới gió mùa có sự phân hóa mạnh: nhiệt độ trung bình năm 23-24°C, mùa đông nhiệt độ xuống dưới 18-20°C, mùa hè chịu ảnh hưởng gay gắt của gió Tây khô nóng với nhiệt độ tối cao đạt 42°C (Con Cuông) và 42,7°C (Tương Dương), độ ẩm nhiều ngày giảm xuống dưới 30%. Mạng lưới thủy văn gồm ba hệ thống sông suối chính: Khe Thơi, Khe Choãng và Khe Khặng đổ vào sông Cả.
  • Đặc điểm dân sinh, kinh tế: Dân số 16 xã vùng đệm là 93.335 người (16.954 hộ) thuộc 7 dân tộc: Thái (66,89%), Khơ Mú (14,75%), Kinh (11,25%), H'Mông (3,98%), Đan Lai (1,60%), Pọong (0,87%), Ơ Đu (0,60%) và dân tộc khác (0,06%). Mật độ dân số phân bố chênh lệch lớn giữa các vùng (xã Tam Hợp chỉ 7 người/km², trong khi xã Đỉnh Sơn lên tới 495 người/km²). Đời sống người dân phụ thuộc vào sản xuất nông lâm nghiệp, có tới 23% số hộ thiếu lương thực vào kỳ giáp hạt, tạo áp lực khai thác lâm sản, săn bắt động vật hoang dã và chăn thả gia súc tự do vào vùng lõi VQG.
  • Khu hệ thực vật: Ghi nhận 1.297 loài thuộc 607 chi và 160 họ của 6 ngành thực vật bậc cao; ngành Ngọc lan chiếm ưu thế tuyệt đối (92,58%). Có 37 loài thực vật có tên trong Sách Đỏ Việt Nam (1 loài EN, 12 loài VU, 9 loài R) và 20 loài trong Danh lục Đỏ IUCN 2002. Thống kê 920 loài có giá trị sử dụng gồm cây gỗ (330 loài), cây thuốc (197 loài) và cây cảnh (74 loài).

Chương III: Mục tiêu – Nội dung – Phương pháp nghiên cứu

Chương III thiết lập chi tiết quy trình tổ chức nghiên cứu. Tác giả xây dựng các bước chuẩn bị từ nhân lực (kết hợp với người dân bản địa dẫn đường am hiểu địa hình), phương tiện và thiết bị chuyên dụng (vợt bắt bướm theo kích thước chuẩn, lọ nuôi giữ mẫu sống thoáng khí, bao giấy tam giác giữ ẩm). Hệ thống tuyến điều tra được khảo sát cụ thể về kiểu rừng và thảm thực vật:

  • Tuyến 1 (Khe Kèm, 11 điểm): Thảm thực vật chính gồm Nứa, Hu đay, Keo lai, Ba bét, Lấu, Đơn buốt, Mâm xôi, Cỏ lào, Trinh nữ, Re bầu, Re hương, Chuối rừng, Trôm.
  • Tuyến 2 (Ban quản lý, 10 điểm): Khu vực địa hình tương đối bằng phẳng, cây trồng và rừng phục hồi gồm Keo, Bạch đàn, Nứa, Dẻ, Sắn canh tác, Vải, Nhãn, Sim, Dầu rái, Mé cò ke; thực bì có Ba gạc, Cúc sinh viên, Lá nến, Cỏ bông hôi.
  • Tuyến 3 (Khe Bu, 9 điểm): Rừng thứ sinh ven suối và trạng thái Ib/Ic gồm Tre nứa, Hu đay, Săng lẻ, Bạch đàn, Trôm; thực bì có Mâm xôi, Cỏ lào, Cỏ tranh, Ba bét, Bồ cu vẽ, Lá han, Ráy, Mua.

Chương này cũng quy định chi tiết kỹ thuật vợt bướm thực địa nhằm tránh tổn hại đến cánh mẫu vật, các biểu mẫu chuẩn hóa thu thập số liệu và quy trình xử lý, làm khô, ghim kim tiêu bản mẫu bướm phục vụ nghiên cứu hình thái.

Chương IV: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương IV là nội dung trọng tâm của khóa luận, cung cấp dữ liệu định lượng và mô tả phân loại học:

  • Thành phần loài: Tổng hợp danh lục họ Bướm phượng (Papilionidae) tại VQG Pù Mát gồm 36 loài thuộc các giống Atrophaneura, Chilasa, Graphium, Lamproptera, Meandrusa, Pachliopta, Papilio, Pathysa và Troides. Trong đó có 3 loài thuộc Sách Đỏ Việt Nam 2007 (Papilio noblei, Troides aeacus, Troides helena), 2 loài thuộc Phụ lục II CITES 2006 (Chilasa paradoxa, Chilasa slateri), và 1 loài thuộc Phụ lục IIB Nghị định 32/2006/NĐ-CP (Chilasa paradoxa).
  • Kết quả điều tra thực địa: Ghi nhận trực tiếp 14 loài bướm phượng trên 3 tuyến khảo sát.
  • Phân tích 5 loài nguy cấp, quý hiếm và có giá trị thẩm mỹ cao:
    • Troides helena (Bướm phượng cánh chim chấm liền): Sải cánh 140-170 mm; con đực mặt trên nhung đen, cánh sau vàng rực viền đen díc dắc; con cái cánh trước nâu đen, các đốm đen hình mũi tên dính liền viền đen mép cánh; gặp 2 cá thể tại điểm 2 (rừng nguyên sinh) và điểm 8 (rừng thứ sinh ven suối) thuộc tuyến 1.
    • Troides aeacus (Bướm phượng cánh chim chấm rời): Sải cánh 150-170 mm; bụng vàng xen đen, các chấm đen bên trong cánh sau không dính liền với viền tam giác mép cánh; gặp 1 cá thể tại điểm 16 (rừng thứ sinh ven suối) thuộc tuyến 2.
    • Papilio noblei (Bướm phượng đốm kem): Sải cánh 110 mm; cánh trước không có vảy thơm, có đốm trắng hình tam giác dưới mạch cánh 2; cánh sau có mảng trắng kem và mắt đỏ nhân đen ở góc dưới; gặp 1 cá thể tại điểm 28 (rừng thứ sinh ven suối) thuộc tuyến 3.
    • Chilasa slateri (Bướm phượng mạo danh vạch ngang xanh): Sải cánh 80-100 mm; cánh trước có loạt đốm xanh sáng hình chuỳ ánh tím, cánh sau màu sô-cô-la tối có đốm lớn màu đất son; gặp 2 cá thể tại điểm 7 (rừng thứ sinh ven suối) thuộc tuyến 1.
    • Chilasa paradoxa (Bướm mạo danh thường lớn): Sải cánh 120-150 mm; con đực cánh trước ánh xanh có chấm mờ, con cái cánh sau có hệ gân trắng túa ra từ gốc cánh; gặp 2 cá thể tại điểm 5 tuyến 1 và điểm 19 tuyến 2.
  • Nghiên cứu cây thức ăn:
    • Pha trưởng thành: Mật hoa Bông ổi (Lantana camara) và Bướm bạc (Mussaenda sp.) là nguồn thức ăn chính của Troides helena.
    • Pha sâu non: Sâu non của Papilio noblei ăn lá cây thuộc chi Zanthoxylum sp.; sâu non của Troides aeacus ăn lá Mã đậu linh Quảng Tây (Aristolochia kwangsiensis); sâu non của Troides helena ăn lá chi Xuyên tiêu (Zanthoxylum sp.) và thực vật họ Mộc hương. Nguồn thức ăn pha sâu non của hai loài giống Chilasa chưa ghi nhận được ngoài thực địa.
  • Đề xuất giải pháp quản lý: Đề xuất các nhóm biện pháp gồm nguyên tắc quản lý tài nguyên rừng bền vững; giải pháp bảo vệ sinh cảnh tự nhiên ven suối và bìa rừng; nhân trồng các loài cây thức ăn (Lantana camara, Aristolochia kwangsiensis); kiểm soát hoạt động săn bắt bẫy bướm thương mại; nâng cao nhận thức cộng đồng vùng đệm.

Chương V: Kết luận, tồn tại và kiến nghị

Chương V tổng hợp các kết luận chính về thành phần loài bướm phượng và giá trị bảo tồn tại VQG Pù Mát. Đồng thời, tác giả nêu rõ các hạn chế trong quá trình thực hiện khóa luận (thời gian nghiên cứu chỉ kéo dài 2 tháng, điều kiện thời tiết mưa nhiều gây khó khăn cho việc quan sát côn trùng bay) và kiến nghị Ban quản lý VQG tiếp tục mở rộng các nghiên cứu theo dõi sinh thái học pha sâu non và thử nghiệm mô hình nhân nuôi bảo tồn.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp danh lục 36 loài thuộc họ Bướm phượng (Papilionidae) phân bố tại Vườn Quốc gia Pù Mát và lập danh sách 5 loài ưu tiên bảo tồn có giá trị thẩm mỹ, khoa học cao dựa trên các thang bậc bảo vệ pháp lý:

STT Tên khoa học Tên tiếng Việt SĐVN (2007) CITES (2006) Nghị định 32/2006/NĐ-CP Giá trị thẩm mỹ
1 Troides helena Bướm phượng cánh chim chấm liền VU Phụ lục II — Có
2 Troides aeacus Bướm phượng cánh chim chấm rời VU Phụ lục II — Có
3 Papilio noblei Bướm phượng đốm kem VU — — Có
4 Chilasa paradoxa Bướm mạo danh thường lớn — Phụ lục II Nhóm IIB Có
5 Chilasa slateri Bướm phượng mạo danh vạch ngang xanh — Phụ lục II — Có

Trong quá trình điều tra thực địa tại 30 điểm thuộc 3 tuyến, tác giả đã phát hiện và ghi nhận 14 loài bướm phượng hoạt động ngoài tự nhiên:

STT Tên khoa học của loài Tuyến bắt gặp Điểm bắt gặp cụ thể
1 Papilio paris Tuyến 1, Tuyến 2 Điểm 7, 15, 17
2 Troides helena Tuyến 1 Điểm 2, 8
3 Prides dasarada Tuyến 2, Tuyến 3 Điểm 12, 18, 27
4 Papilio polyctor Tuyến 2, Tuyến 3 Điểm 17, 23
5 Papilio polytes Tuyến 1, Tuyến 3 Điểm 9, 22
6 Graphium macareus Tuyến 1, Tuyến 2 Điểm 3, 16
7 Lamproptera meges Tuyến 1 Điểm 5
8 Graphium sarpedon Tuyến 1, Tuyến 2 Điểm 3, 13, 19
9 Meandrusa payeni Tuyến 1, Tuyến 2 Điểm 7, 15
10 Graphium doson Tuyến 2, Tuyến 3 Điểm 18, 22, 29
11 Papilio noblei Tuyến 3 Điểm 28
12 Troides aeacus Tuyến 2 Điểm 16
13 Chilasa paradoxa Tuyến 1, Tuyến 2 Điểm 5, 19
14 Chilasa slateri Tuyến 1 Điểm 7

Về nguồn thức ăn sinh thái, đề tài xác định mối quan hệ dinh dưỡng giữa bướm phượng và thực vật chủ:

  • Pha trưởng thành: Mật hoa cây Bông ổi (Lantana camara) mọc phổ biến tại các khoảng trống, ven suối và bìa rừng thứ sinh là nguồn thức ăn ưa thích của Troides helena (ghi nhận tại các điểm 1, 3, 7, 9, 12, 17, 18, 19, 24, 25, 26, 29); hoa cây Bướm bạc (Mussaenda sp.) nở từ tháng 4-7 cũng cung cấp mật hoa cho loài này (bắt gặp tại điểm 6 rừng nguyên sinh).
  • Pha sâu non: Cây Mã đậu linh Quảng Tây (Aristolochia kwangsiensis) dạng dây leo thân gỗ là cây thức ăn của sâu non loài Troides aeacus (phân bố tại điểm 2, 13, 16); các loài thuộc chi Xuyên tiêu (Zanthoxylum sp.) là thức ăn của sâu non loài Papilio noblei (điểm 5, 10, 24) và Troides helena (điểm 5, 7, 28).

Đóng góp của tác giả: Đề tài đã cung cấp dẫn liệu thực địa cụ thể về tọa độ tuyến, điểm phân bố vi sinh cảnh và thức ăn tự nhiên của các loài Bướm phượng nguy cấp tại VQG Pù Mát, khắc phục khoảng trống thiếu hụt số liệu điều tra loài quý hiếm của các công trình tổng quan trước đó. Tác giả đề xuất các biện pháp quản lý sinh cảnh tập trung vào bảo vệ thảm thực vật ven suối, duy trì cây thức ăn và kiểm soát triệt để nạn săn bắt côn trùng thương mại.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tự chỉ ra các tồn tại khách quan trong quá trình thực hiện:

  • Giới hạn thời gian khảo sát thực địa ngắn (2 tháng, từ 14/02 đến 15/04/2011) so với toàn bộ chu kỳ sống của các loài bướm phượng.
  • Điều kiện thời tiết trong đợt điều tra có nhiều ngày mưa kéo dài, làm giảm tần suất bay lượn và hoạt động kiếm ăn ngoài ánh sáng của bướm trưởng thành.
  • Nghiên cứu mới chỉ tập trung quan sát được đặc điểm hình thái và tập tính bay của pha trưởng thành; chưa theo dõi trực tiếp đầy đủ các giai đoạn phát triển của trứng, sâu non và nhộng ngoài tự nhiên; nguồn thức ăn pha sâu non của hai loài Chilasa paradoxa và Chilasa slateri vẫn chưa xác định được rõ ràng.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được văn bản đề cập gồm:

  • Mở rộng thời gian điều tra vào các tháng mùa hè nắng ráo (từ tháng 5 đến tháng 8) khi các loài bướm xuất hiện rộ nhất để bổ sung danh lục cá thể.
  • Nghiên cứu chuyên sâu vòng đời và đặc điểm sinh thái học các pha trứng, sâu non, nhộng của các loài quý hiếm.
  • Thử nghiệm mô hình nhân nuôi bảo tồn loài Bướm phượng cánh chim chấm liền (Troides helena) và các loài có giá trị thẩm mỹ, học tập kinh nghiệm nhân nuôi đã thành công tại Thái Lan nhằm giảm áp lực khai thác từ tự nhiên.

Giá trị tham khảo

Báo cáo khóa luận là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học và nhà nghiên cứu thuộc các ngành Quản lý Tài nguyên Rừng, Lâm học, Bảo vệ Thực vật, Sinh thái học và Đa dạng Sinh học.
  • Cán bộ kỹ thuật, kiểm lâm tại các Vườn Quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên (đặc biệt khu vực Bắc Trung Bộ) đang triển khai công tác giám sát côn trùng chỉ thị và bảo tồn loài hoang dã nguy cấp.

Những phần có giá trị tham khảo cao nhất trong văn bản gồm:

  • Bảng danh mục 36 loài thuộc họ Papilionidae được tra cứu và đối chiếu với Sách Đỏ Việt Nam và các công ước quốc tế.
  • Bản đồ và mô tả chi tiết đặc điểm thực vật, sinh cảnh của 3 tuyến điều tra (30 điểm khảo sát cụ thể) tại Khe Kèm, Khe Bu và khu vực hành chính VQG Pù Mát.
  • Quy chuẩn kỹ thuật thu bắt mẫu côn trùng sống, kỹ thuật gấp bao giấy tam giác giữ ẩm và phương pháp ghim cắm, căng phơi làm tiêu bản mẫu bướm khô đạt tiêu chuẩn trưng bày.
  • Tư liệu mô tả hình thái chi tiết và đối chiếu nhận dạng các loài dễ nhầm lẫn trong giống Troides (T. helena và T. aeacus) và giống Chilasa (C. paradoxa và C. slateri).

Câu hỏi thường gặp

Khóa luận ghi nhận bao nhiêu loài Bướm phượng có tên trong danh mục bảo tồn tại VQG Pù Mát?

Theo bảng thống kê của khóa luận (trích xuất từ dữ liệu lưu trữ của Phòng Khoa học VQG Pù Mát và Sách Đỏ Việt Nam 2007), tại VQG Pù Mát ghi nhận 36 loài họ Bướm phượng, trong đó có 3 loài thuộc Sách Đỏ Việt Nam năm 2007 cấp VU (Troides helena, Troides aeacus, Papilio noblei), 2 loài có tên trong Phụ lục II CITES năm 2006 (Chilasa paradoxa, Chilasa slateri) và 1 loài thuộc Phụ lục IIB của Nghị định số 32/2006/NĐ-CP (Chilasa paradoxa).

Dấu hiệu hình thái nào giúp phân biệt con cái của hai loài bướm cánh chim Troides helena và Troides aeacus?

Theo mô tả của tác giả, con cái của hai loài đều có kích thước lớn hơn con đực và hoa văn cánh sau có nền vàng viền đen tam giác. Tuy nhiên, ở Troides helena (Bướm phượng cánh chim chấm liền), các đốm đen to hình mũi tên trên cánh sau dính liền với đỉnh díc dắc của mép cánh. Ngược lại, ở Troides aeacus (Bướm phượng cánh chim chấm rời), các chấm đen bên trong cánh sau hoàn toàn tách rời, không dính liền với các chấm hình tam giác ở mép cánh.

Những loài cây nào được xác định là nguồn thức ăn tự nhiên của Troides helena và Troides aeacus tại VQG Pù Mát?

Văn bản xác định: Đối với pha trưởng thành, loài Troides helena ưa thích hút mật hoa cây Bông ổi (Lantana camara) phân bố tại các trảng cỏ, bìa rừng thứ sinh và hoa cây Bướm bạc (Mussaenda sp.) ở rừng nguyên sinh. Đối với pha sâu non, ấu trùng loài Troides aeacus ăn lá cây dây leo thân gỗ Mã đậu linh Quảng Tây (Aristolochia kwangsiensis), trong khi sâu non loài Troides helena ăn lá các loài cây thuộc chi Xuyên tiêu (Zanthoxylum sp.) và thực vật họ Mộc hương.

Hệ thống tuyến điều tra thực địa được thiết kế với quy mô và phạm vi như thế nào?

Tác giả đã thiết lập 3 tuyến điều tra với tổng cộng 30 điểm khảo sát: Tuyến 1 tại khu vực Khe Kèm dài 4.400 m (11 điểm điều tra, đi từ Trạm QLBVR Khe Kèm vào khu du lịch Thác Kèm); Tuyến 2 tại khu vực Ban quản lý VQG Pù Mát dài 3.500 m (10 điểm điều tra, từ Quốc lộ 7A qua vườn thực vật đến làng Ăn); Tuyến 3 tại khu vực Khe Bu dài 5.000 m (9 điểm điều tra, từ Trạm QLBVR Khe Bu đi núi Phu Lon và khe Choãng).

Kỹ thuật làm khô và ghim kim tiêu bản mẫu bướm được thực hiện theo tiêu chuẩn nào?

Sau khi thu bắt, mẫu bướm được căng trên tấm xốp có rãnh (kích thước 30 x 25 x 2 cm), dùng kim cố định đốt ngực trước, chỉnh mép sau cánh trước thẳng góc vuông với thân và ghim băng giấy giữ cố định cánh cùng hai râu đầu. Mẫu được phơi khô hoặc sấy từ 4-5 ngày để tránh ẩm mốc. Khi mẫu khô hoàn toàn, dùng kim côn trùng cắm vuông góc từ phía lưng qua đốt ngực giữa sao cho 1/3 chiều dài kim nhô lên phía trên lưng và 2/3 thân kim nằm ở phía dưới bụng.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Ngô Đức Đoàn đã xác lập danh lục 36 loài thuộc họ Bướm phượng (Papilionidae) tại Vườn Quốc gia Pù Mát, đồng thời ghi nhận trực tiếp 14 loài qua 30 điểm khảo sát thực địa trên 3 tuyến điều tra sinh cảnh. Nghiên cứu đã mô tả chi tiết đặc điểm hình thái phân loại, tập tính bay và cây thức ăn tự nhiên cho pha trưởng thành và sâu non của 5 loài nguy cấp, quý hiếm có tên trong Sách Đỏ Việt Nam và Công ước CITES. Dẫn liệu thực nghiệm của đề tài cung cấp cơ sở khoa học xác thực phục vụ công tác quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học và quản lý sinh cảnh sống cho các loài côn trùng chỉ thị tại VQG Pù Mát.