Đặt vấn đề Rừng là tài nguyên quý giá của nhân loại, là một bộ phận quan trọng của môi trường sống và có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống sản xuất của xã hội loài người. Trong thực tế, ngoài việc cung cấp gỗ, củi, đem lại nhiều lợi ích to lớn khác về mặt xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái, rừng còn cung cấp các loại lâm sản, là một trong những ngành nghề đóng góp cho sự thay đổi, phát triển của nền kinh tế quốc dân. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của xã hội thì nền kinh tế nước ta cũng thay đổi từng ngày từng giờ theo chiều hướng đi lên. Sự thay đổi đó diễn ra ở các ngành nghề khác nhau, các lĩnh vực khác nhau.
Xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu của con người ngày càng cao hơn. Cùng với sự phát triển chung của ngành kinh tế thì ngành Lâm nghiệp cũng không nằm ngoài quy luật đó. Vì vậy đòi hỏi các nhà quản lý phải nghiên cứu, cân nhắc khi thiết kế xây dựng một chương trình bất kỳ nào đó phải đảm bảo sự hài hoà giữa lợi ích kinh tế với các lợi ích khác của xã hội. Hiện nay diện tích rừng đang được ngành Lâm nghiệp quản lý, ngoài việc bảo vệ môi trường sinh thái thì rừng nước ta đã góp phần quan trọng vào việc tăng trưởng kinh tế của đất nước, đồng thời cung cấp cho chúng ta lượng lâm sản phục vụ cho nhu cầu của nhân dân.
Một trong những lâm sản quan trọng mà rừng mang lại cho con người là gỗ, gỗ được sử dụng trong các ngành xây dựng, trụ mỏ, chế biến bột giấy, sợi, đồ dùng gia đình.nhưng hiện nay diện tích rừng và đất rừng của nước ta đang bị thu hẹp về cả số lượng và chất lượng. Việc khai thác quá mức, chuyển đổi đất rừng không hợp lý thành các loại đất khác (trồng trọt, chăn nuôi, nhà ở, đốt rừng làm nương rẫy.) cùng với sự gia tăng dân số quá trình đô thị hóa hay nhận thức còn hạn chế 2 của con người đã làm cho tài nguyên rừng bị suy giảm nghiêm trọng. Trước thực trạng đó Đảng và nhà nước ta đã có nhiều biện pháp thiết thực nhằm giảm tình trạng khai thác nguồn tài nguyên rừng bừa bãi, tiếp tục phủ xanh diện tích đất trống đồi núi trọc, tiến hành trồng rừng phòng hộ đầu nguồn, trồng rừng sản xuất tập trung. Trồng rừng sản xuất tập chung đáp ứng được nhu cầu về nguyên liệu gỗ cho các nhà máy giấy, nhà máy sợi, các nhà máy xí nghiệp chế biến ván dăm và cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến gỗ khác.
Tuy nhiên, khi thực hiện trồng rừng trên một diện tích lớn, số lượng cây nhiều và trồng thuần loài thì vấn đề sâu bệnh hại diễn ra nhiều và có thể gây thành dịch hại nguy hiểm là điều khó tránh khỏi. Do đó, để đạt được kết quả tốt trong việc trồng rừng thì việc tạo ra cây giống tốt, khỏe mạnh, không sâu hại, không mầm bệnh là một điều cực kỳ quan trọng trong công tác giống và việc quản lý cây con trong giai đoạn vườn ươm là rất cần thiết. Ngày nay, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng tổn thất do bệnh gây ra lớn hơn rất nhiều lần tổn thất do các tác hại tự nhiên khác, nó làm cho cây yếu và thậm chí là chết hàng loạt. Theo tài liệu thống kê của Cục Lâm vụ nước Mỹ năm 1952, trong những thiệt hại tự nhiên, giá trị tổn thất do: Bệnh cây rừng gây ra chiếm: 45% Sâu hại: 20% Cháy rừng: 17% Động vật + khí hậu: 18% Các loại bệnh phổ biến ở vườn ươm hiên nay gồm bệnh thối cổ rễ cây con, bệnh rơm lá thông, bệnh phấn trắng lá keo, bệnh gỉ sắt keo, bệnh đốm lá bạch đàn, thán thư lá mỡ.
đã làm cho chất lượng cây giống giảm sút đáng kể và việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật phòng trừ hiện nay chưa có hiệu quả tốt.Vì vậy, việc nghiên cứu tìm ra nguyên nhân gây bệnh, triệu chứng và ảnh 3 hưởng của môi trường đến sự phát sinh, phát triển bệnh cây từ đó đề ra các biện pháp phòng trừ bệnh cho cây con ở vườn ươm là rất cần thiết. Trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên hiện nay các loài keo, keo lai (Acacia hybrid) và Mỡ (Mangletia glauca BL.) là những loài cây trồng chính, được trồng với diện tích lớn và tập trung. Tuy nhiên trong giai đoạn vườn ươm cây mỡ thường bị nhiều loại bệnh gây hại như bệnh thán thư lá, đốm lá, cháy lá, thối cổ rễ… Làm ảnh hưởng đến số lượng, chất lượng cây giống trước khi xuất vườn, gây nên những thiệt hại cho sản xuất lâm nghiệp. Để góp phần sản xuất cây con đạt chất lượng cao phục vụ cho công tác trồng rừng tại Thái Nguyên thì việc điều tra xác định nguyên nhân gây bệnh, nghiên cứu quá trình phát sinh, phát triển của bệnh và đề xuất biện pháp phòng trừ bệnh hại cây con giai đoạn vườn ươm là rất cần thiết.
Xuất phát từ thực tế trên, và nguyện vọng muốn đóng góp một phần nhỏ của bản thân trong việc tìm ra các biện pháp phòng trừ một số loại bệnh hại chủ yếu cây mỡ con trong vườn ươm, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu một số biện pháp phòng trừ bệnh hại chính cây mỡ trong giai đoạn vườn ươm tại Trường Đại học Nông Lâm - Thái Nguyên” 1. Mục tiêu nghiên cứu Xác định được các loại bệnh hại và vật gây bệnh cây mỡ. Đánh giá được tình hình bệnh hại cây con ở giai đoạn vườn ươm đối với cây mỡ. Đề xuất các biện pháp phòng trừ một số bệnh hại chính trên cây mỡ rong giai đoạn vườn ươm.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn * Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Củng cố kiến thức đã học, bổ sung kiến thức chuyên môn. 4 - Điều tra bệnh hại giúp tôi nắm vững phương pháp điều tra bệnh hại cây con trong vươn ươm. - Việc nghiên cứu đề tài là cơ sở để đề xuất biện pháp phòng trừ các bệnh hại cây mỡ con ở vườn ươm. - Biết cách tổng hợp, phân tích để viết một báo cáo khoa học.
* Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất - Quá trình thu thập số liệu giúp tôi học hỏi và làm quen với thực tế sản xuất. - Quá trình nghiên cứu giúp tôi nắm bắt được tình hình bệnh hại ở vườn ươm mà các đề xuất mà đề tài đưa ra có thể ứng dụng vào thực tiễn sản xuất để phòng trừ bệnh hại cho cây con trong vườn ươm giúp cây sinh trưởng tốt, nâng cao chất lượng của cây con giống và đáp ứng được mục tiêu trồng rừng sản xuất. 5 Phần 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học Khoa học bệnh cây được hình thành và phát triển do đòi hỏi của nhu cầu cầu sản xuất cây nông nghiệp và do quá trình đấu tranh giữa thiên nhiên và con người, giữa ý thức hệ duy tâm và duy vật.
Ngay từ đầu của lịch sử trồng trọt, nhân dân lao động thông qua thực tế sản xuất và những kinh nghiệm của mình đã phát hiện và phòng trừ một số bệnh hại nguy hiểm (Trần Văn Mão,1997) [5]. Bệnh cây rừng là một loại tác hại của tự nhiên, nó tác động và gây ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển không bình thường của cây rừng, thậm chí làm cho cây bị chết và gây ra những tổn thất về kinh tế và sinh thái. Nước ta cũng đã từng xảy ra các loại bệnh dịch nguy hiểm như bệnh khô cành bạch đàn ở Đồng Nai làm cho 11.000 ha cây bị khô, ở Thừa Thiên Huế 500 ha, ở Quảng Trị trên 50 ha. Bệnh khô xám thông, bệnh rơm lá thông, bệnh khô ngọn thông, bệnh thối cổ rễ thông, bệnh vàng lá sa mộc, bệnh khô cành cây phi lao, bệnh khô héo trẩu, bệnh chổi xể tre luồng, bệnh tua mực quế, bệnh sọc tím tre luồng… đã uy hiếp nghiêm trọng hàng ngàn ha rừng và ảnh hưởng đến sản xuất lâm nghiệp ở nước ta.
Theo cách hiểu thông thường, bệnh cây là khoa học nghiên cứu về cây bị bệnh, sinh trưởng và phát triển không bình thường vì những lý do sinh vật cũng như không phải sinh vật. Bệnh cây là kết quả tác động của 3 yếu tố: nguồn bệnh, cây trồng và điều kiện bên ngoài. Cách hiểu trên giúp chúng ta nắm được nội dung và thực chất của bệnh cây ở mức độ từng cá thể. Tuy nhiên trong thực tế sản xuất cách hiểu trên đây chưa cho phép giải quyết một cách có cơ sở những trường hợp cụ thể về bệnh cây.
6 Trong hoạt động thực tế của mình, người làm công tác bệnh cây phải giải quyết các nhiệm vụ có liên quan đến những tập đoàn có cây lớn, vi sinh vật gây bệnh, trong những khoảng không gian nhất định, thường là khá rộng lớn, với tác động của nhiều yếu tố khí hậu, đất đai khác nhau. Khoa học bệnh cây có các nhiệm vụ chính: Nghiên cứu bệnh hại cây trên cơ sở đó xác định các biện pháp bảo vệ làm cho năng suất cây trồng ở mức cao nhất và ổn định. Góp phần phát huy tác dụng của giống cây có năng suất cao và các biện pháp kỹ thuật trồng trọt tiên tiến: Bón phân, chế độ nước, mật đọ cao…Trong sản xuất không để bệnh hại phát triển và gây thành dịch. Giải quyết vấn đề về bệnh cây góp phần tạo điều kiện cho việc hình thành các vùng chuyên canh, nhất là những cây có giá trị kinh tế lớn (Đường Hồng Dật, 1979) [2].
Để hoàn thành các nhiệm vụ trên, khoa học bệnh cây có các nội dung: Nghiên cứu và xác định nguyên nhân gây bệnh: Nghiên cứu bệnh thường rất nhiều và phức tạp, trong thực tế nhiều trường hợp cùng một nguyên nhân nhưng gây ra những biểu hiện bệnh rất khác nhau, ngược lại có những trường hợp nhiều nguyên nhân cùng gây ra một triệu chứng bệnh rất giống nhau. Một biểu hiện bệnh có thể có một hoặc một số nguyên nhân chủ yếu và một số nguyên nhân thứ yếu. Nhầm lẫn vai trò và vị trí các loại nguyên nhân có thể dẫn đến những kết luận và hành động sai lầm. Có xác định đúng nguyên nhân gây bệnh thì các công việc tiếp tục sau đó mới có cơ sở chắc chắn và chính xác.
Muốn phòng trừ bệnh, bảo vệ cây có hiệu quả, tránh lãng phí và các hậu quả tiêu cực khác, không thể không xác định nguyên nhân gây bệnh (Đường Hồng Dật, 1979) [2]. 7 Phát hiện các quy luật phát sinh, phát triển và hình thành của dịch bệnh cây: Bệnh cây phát sinh và phát triển theo những quy luật nhất định.