Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Nguồn gốc và phân loại của cây lạc Theo tài liệu của các nhà sử học, tự nhiên học, khảo cổ học và ngôn ngữ học, người ta cho rằng lạc có nguồn gốc từ Nam Mỹ. Đặc biệt trên những vùng đảo Tây Ấn, Mêhicô, vùng biển Đông- Đông Bắc Braxin, trên những vùng ấm áp thuộc lòng chảo Rio-plata (Achentina, Paragoay, Bôlivia, cực tây nam Braxin, Pêru). Sau đó phổ biến sang Châu Âu, tới vùng bờ biển Châu Phi, Châu Á (Trung Quốc, Indônêxia, Ấn Độ), tới quần đảo Thái Bình Dương và tới vùng Đông Nam Hoa Kỳ.
Nguồn gốc chính của loài lạc trồng Arachis hypogaea ở nước nào của Châu Mỹ cho tới nay vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau (Ngô Thế Dân và CS, 2000) [6]. Lịch sử trồng lạc tại các nước Nam Mỹ có từ khoảng 1500-1200 năm trước công nguyên. Từ thế kỷ XV trở đi, lạc được lan truyền sang các châu lục khác. Sau chuyến đi thứ nhất của Columbus cây lạc được đưa vào Châu Âu từ thế kỷ XVI, và vào Châu Á khoảng thế kỷ XVII-XVIII.
Lịch sử trồng lạc ở Việt Nam tới nay chưa được xác minh rõ ràng. Sách “Vân Đài loại ngữ” của Lê Quý Đôn có mô tả nhận xét nhiều loại cây trồng ở nước ta, nhưng cũng không đề cập đến cây lạc. Nếu căn cứ vào tên gọi mà xét đoán danh từ “Lạc” có thể do từ Hán “Hoa sinh” là người Trung Quốc gọi là cây lạc. Như vậy, cây lạc có thể từ Trung Quốc nhập vào nước ta khoảng thế kỷ XVII, XVIII.
Lạc thuộc loại cánh bướm (Fabaceae), chi Arachis. Từ lâu người ta chỉ biết đến một loài của chi Arachis, đó là lạc trồng A. hypogaea do Line mô tả từ năm 1753. n 5 Dựa trên cấu trúc hình thái chia loài lạc trồng làm 2 nhóm lớn: nhóm phân cành xen kẽ và nhóm phân cành liên tục ứng với nhóm Virginia và nhóm Spanish, Valencia theo Gregory [31].
Theo thời gian sinh trưởng lạc được phân làm 3 nhóm như sau: Nhóm 1: Nhóm chín sớm từ 80-100 ngày Nhóm 2: Nhóm chín trung bình từ 101-120 ngày Nhóm 3: Nhóm chín muộn trên 120 ngày Với điều kiện thời tiết và tập quán sản xuất ở miền Bắc Việt Nam (từ Thanh Hoá trở ra), để phù hợp cho việc bố trí cây trồng trong cơ cầu thời vụ thì có thể chia ngưỡng TGST ở các tỉnh phía Bắc chia làm 4 nhóm sau: Nhóm 1: Nhóm chín cực sớm từ 90 - 100 ngày Nhóm 2: Nhóm chín sớm từ 101 - 120 ngày Nhóm 3: Nhóm chín trung bình từ: 121 - 140 ngày Nhóm 4: Nhóm chín muộn từ trên 140 ngày 1. Giá trị của cây lạc trong hệ thống trồng trọt Lạc không những có khả năng cung cấp dinh dưỡng cho con người và gia súc, mà nó còn có khả năng cải tạo đất nhờ hệ thống vi khuẩn cộng sinh cố định đạm và các bộ phận thân lá rễ của cây lạc. Cây lạc thuộc họ đậu, có khả năng cộng sinh với loài vi khuẩn Rhizobium virgna để sử dụng nitơ phân tử từ khí trời. Nhờ khả năng này mà trồng lạc không cần bón phân đạm nhiều nhưng vẫn đảm bảo năng suất, đồng thời nó còn cung cấp trở lại cho đất một lượng đạm đáng kể (Mayer R.
Theo Lê Văn Diễn và CS (1991) [8] việc luân canh giữa cây họ đậu với cây trồng khác đã góp phần cải thiện chế độ dinh dưỡng khoáng đối với các n 6 cây trồng này. Mặt khác với bộ tán cây dày, có khả năng che phủ tốt, nên cây lạc làm giảm mức độ xói mòn của đất, nó góp phần bảo vệ, nâng cao độ phì của đất, đặc biệt vào mùa mưa. Tình hình sản xuất và nghiên cứu kỹ thuật trồng lạc trên thế giới 1. Tình hình sản xuất lạc trên thế giới Theo thống kê của FAO [30], USDA (2000 - 2006) [37] diện tích lạc trên toàn thế giới trong 35 năm qua tăng 14,1%.
Trong đó, khu vực Đông Nam Á tăng 15,5%. Diện tích trung bình từ năm 2000 - 2005 trên thế giới là 22,415 triệu ha, tăng so với những năm 1970 là 24,8%, so với những năm 1990 là 8,7%. Năng suất lạc trung bình toàn thế giới tăng, song không đều ở các khu vực, thậm chí có nơi năng suất còn giảm. Khu vực Bắc Mỹ trong ba thập kỷ cuối thế kỷ XX năng suất tăng không đáng kể (từ 26,0 ta/ha lên 27,9 tạ/ha).
Nhưng những năm gần đây lại liên tục tăng, năm 2004 năng suất đạt 37,5 tạ/ha (USDA-Agricultural statics, 2006) [37]. Ở Nam Mỹ năng suất tăng từ 11,6 tạ năm 1979 lên 16,7 tạ năm 1999 tăng 35,1%. Châu Á nhờ áp dụng các biện pháp kỹ thuật trong việc chọn tạo, sử dụng giống mới nên năng suất lạc tăng từ 9,1 tạ/ha năm 1979 lên 14,5tạ/ha năm 1999, khu vực Đông Nam Á tăng từ 10,1 tạ/ha lên 13,0 tạ/ha (Florkowski W. Tây Nam Á có năng suất lạc thấp nhất, song trong những thập kỷ gần đây năng suất lạc đã tăng từ 7,9 tạ/ha năm 1979 lên 9,3 tạ/ha năm 1999 [27], [29].
Các nước Châu Âu năng suất lạc tăng từ 16,1 tạ/ha năm 1979 lên 23,5 tạ năm 1999. Sản lượng lạc trên thế giới luôn tăng, những năm cuối thập kỷ 90 là 26,399 triệu tấn, tăng so với thập kỷ 70 là 58,01%. Tuy nhiên, sản lượng tăng, giảm ở các châu lục lại khác nhau. Châu Mỹ sản lượng giảm 4,9%, Châu phi tăng 4,6%.
Châu Á tăng mạnh nhất 104,69% từ 9,548 lên 19,543 triệu n 7 tấn/năm, điển hình như khu vực Đông Nam Á những năm 90 tăng gần 300% so với những năm 70 [27], [29]. Sản lượng lạc trung bình của thế giới trong 6 năm gần đây (2000 - 2005) là 32,261 triệu tấn/năm tăng so với nhưng năm 70 là 93,1%, tăng so với năm 90 là 23,5% [35]. Ấn độ là nước có diện tích trồng lạc lớn nhất thế giới, song lạc chủ yếu được trồng ở những vùng khô hạn, năng suất lạc thấp so với năng suất trung bình của thế giới [29], [27]. Diện tích lạc trung bình những năm 70 là 7,159 trệu ha, năng suất 8,1tạ/ha.
Theo thống kê của FAO, USDA (2000 - 2006)[29], [37] diện tích lạc trung bình của Ấn Độ là 8 triệu ha, năng suất trung bình 8,6 tạ/ha so với những năm 90 giảm 8,5%. Trung Quốc diện tích lạc trong những năm 60 là 1,919 triệu ha năng suất 11,4 tạ/ha và tăng liên tục, năm 1980 diện tích lạc của Trung Quốc là 2,647 triệu ha năng suất trung bình 17,6 tạ/ha [34]. Những năm gần đây diện tích trồng lạc hàng năm của Trung Quốc là 5,035 triệu ha, chiếm 20% tổng diện tích lạc toàn thế giới. Năng suất trung bình là 28,2 tạ/ha.
Mỹ là nước có diện tích lạc và năng suất ổn định, năm 2000- 2004 diện tích là 0,578 triệu ha, năng suất trung bình 31,7 tạ/ha. Nigiêria năm 2000 - 2004 diện tích lạc từ 1,22 - 1,23 triệu ha, năng suất đạt 8,6 tạ/ha. Inđônêsia năm 2004 diện tích lạc là 0,7 triệu ha, năng suất trung bình 15,9 tạ/ha. Ngoài các nước trên, lạc còn được trồng một diện tích lớn ở Sênêgan, Bu Ma, Su Đăng, Bu Ki Na, Hàn Quốc, Achentina.
Một số yếu tố hạn chế chính đến sản xuất lạc trên thế giới Lạc là cây công nghiệp ngắn ngày có giá trị kinh tế cao. Trong điều kiện nghiên cứu, lạc là cây trồng có tiềm năng cho năng suất rất cao. Tuy nhiên trong thực tế sản xuất, nhiều nơi con người chưa khai thác được tiềm năng này. Nhiều nước trên thế giới, diện tích trồng lạc vẫn giảm, năng suất lạc thấp.
Để giải quyết vấn đề này, việc xác định các yếu tố hạn chế đến sản n 8 xuất lạc là cần thiết. Qua nhiều năm điều tra, nghiên cứu các nhà khoa học trên thế giới đã xác định ba nhóm yếu tố hạn chế chính là: Phi sinh học, sinh học và kinh tế xã hội. Yếu tố kinh tế xã hội: Theo Willam M. L (1987) [38] yếu tố quan trọng nhất hạn chế năng suất của đậu đỗ là thiếu sự chú ý ưu tiên phát triển của nhà nước và nông dân, mà chủ yếu coi trọng phát triển cây lương thực; nhiều nước nghèo không có cơ hội tiếp cận với các giống lạc mới và tiến bộ mới trong kỹ thuật trồng lạc.
Yếu tố phi sinh học: đất chua, nghèo dinh dưỡng, khô hạn là yếu tố chính hạn chế đến năng suất của cây lạc. Theo Reid và Cox (1973) [36] lạc trồng trên đất có PH <5 thì năng suất thấp. Đất chua nghèo dinh dưỡng, khô hạn chính là yếu tố hạn chế lớn đến sản xuất lạc trên thế giới. Ở hầu hết khu vực Châu Á, các yếu tố khí hậu, điều kiện đất đai, chế độ mưa là những yếu tố hạn chế năng suất của các cây đậu đỗ.
Ngoài ra, dinh dưỡng đất là nguyên nhân chính gây ra năng suất thấp. Theo Duan Shufen (1998) [28], hơn 2 triệu ha đất trồng lạc ở Trung Quốc có tầng đất nông, kết cấu kém, nghèo dinh dưỡng và chặt, năng suất lạc không thể tăng nếu không bón dư phân và áp dụng các biện pháp cải tạo đất. Theo Vũ Công Hậu và CS (dịch, 1995) [11] cho biết lạc được trồng trên đất có độ mặn 4.900 miCromhos/cm thì sản lượng giảm 50%, nếu độ mặn là 6.500 miCromhos/cm thì không có sản lượng. Cũng theo tác giả này đất trồng lạc thiếu Bo đã làm cho quả không có hạt.
Đất chua (PH thấp), hàm lượng P, Ca, Mg, Mo thấp, Al và Mn cao nên ức chế sự hình thành và hoạt động của nốt sần ở cây lạc. Mà nguyên nhân dẫn đến đất chua, nghèo dinh dưỡng chủ yếu là do đất bị rửa trôi, xói mòn, từ đó làm năng suất lạc thấp. Cây lạc chậm phát triển khi nồng độ Al là 3 micro M. Đất trồng lạc thiếu Ca, đất chua là yếu tố ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng và xâm nhập của vi khuẩn nốt sần n 9 cộng sinh với cây lạc, từ đó hạn chế quá trình cố định đạm sinh học ở rễ lạc.
Sự mất cân đối các chất dinh dưỡng ở trong đất là nguyên nhân dẫn đến năng suất lạc thấp. Ngoài ra, nhiều khu vực trồng lạc trên thế giới còn gặp trở ngại trong việc phát triển diện tích và tăng năng suất lạc là yếu tố nước. Do vậy khô hạn luôn là yếu tố hạn chế đối với cây lạc. Ánh sáng và nhiệt độ: Lạc là cây mẫn cảm với nhiệt độ và cường độ ánh sáng ngày ngắn.
Cường độ ánh sáng thấp vào thời kỳ ra hoa làm cho lạc sinh trưởng chậm, cành sinh sản bị ức chế, hoa rụng, thời kỳ đâm tia, hình thành quả, làm cho số lượng tia và quả giảm (Hudge và Mc Cloud 1974 [32].