Luận án tiến sĩ nghiên cứu sự biến đổi và giá trị nồng độ lh trong tiên lượng điều trị kích thích phóng noãn bệnh nhân vô sinh do buồng trứng đa nang bằng clomiphene citrate đơn thuần và kết hợp với fsh

Luận án tiến sĩ nghiên cứu biến đổi và giá trị nồng độ LH trong tiên lượng điều trị kích thích phóng noãn cho bệnh nhân vô sinh do buồng trứng đa nang.

Trường đại học

Đại Học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Sản Phụ khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ y học
123
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Chẩn đoán hội chứng buồng trứng đa nang

1.2. Các triệu chứng lâm sàng của BTĐN

1.3. Các triệu chứng cận lâm sàng

1.4. Các tiêu chuẩn chẩn đoán

1.5. Cơ chế bệnh sinh

1.6. Cơ chế hoạt động của tuyến dưới đồi, tuyến yên, buồng trứng

1.7. Cơ chế hoạt động hai tế bào ở buồng trứng

1.8. Các cơ chế bệnh sinh của BTĐN

1.9. Các nguyên nhân gây BTĐN

1.10. Điều trị vô sinh ở bệnh nhân hội chứng BTĐN

1.11. Giảm cân và tập thể dục

1.12. Phẫu thuật nội soi

1.13. Ức chế thơm hóa

1.14. Thụ tinh ống nghiệm

1.15. Tình hình nghiên cứu về mối liên quan giữa LH và điều trị trong BTĐN

1.16. Kỹ thuật xét nghiệm LH

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.2. Đối tượng nghiên cứu

2.3. Tiêu chuẩn lựa chọn

2.4. Tiêu chuẩn loại trừ

2.5. Phương pháp nghiên cứu

2.6. Thiết kế nghiên cứu

2.7. Cỡ mẫu nghiên cứu

2.8. Qui trình nghiên cứu

2.9. Sơ đồ qui trình nghiên cứu

2.10. Biến số nghiên cứu

2.11. Xử lý số liệu

2.12. Đạo đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Nồng độ LH và tỷ số LH/FSH ở bệnh nhân vô sinh có HCBTĐN

3.2. Lâm sàng và cận lâm sàng bệnh nhân không đáp ứng với phác đồ điều trị CC đơn thuần

3.3. Đặc điểm lâm sàng

3.4. Đặc điểm cận lâm sàng

3.5. So sánh các đặc điểm lâm sàng giữa nhóm đáp ứng điều trị với CC và nhóm không đáp ứng điều trị CC

3.6. Sự biến đổi nồng độ LH ở bệnh nhân có đáp ứng và không đáp ứng với phác đồ CC đơn thuần và phác đồ CC kết hợp FSH

3.7. Nồng độ LH và chỉ số LH/FSH trung bình trước điều trị của 2 nhóm

3.8. Phân tích sự phân bố nồng độ của LH ở hai nhóm điều trị

3.9. Phân tích đường cong ROC

3.10. So sánh đáp ứng điều trị theo ngưỡng nồng độ LH

3.11. Phân tích hồi qui đơn biến mối liên quan của LH với các yếu tố

3.12. Phân tích hồi qui logistics

3.13. Sự biến đổi của nồng độ LH trong quá trình điều trị

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Nồng độ LH ở bệnh nhân vô sinh có BTĐN

4.2. Lâm sàng và cận lâm sàng bệnh nhân không đáp ứng với phác đồ điều trị CC đơn thuần

4.3. Sự biến đổi nồng độ LH ở bệnh nhân có đáp ứng và không đáp ứng với phác đồ CC đơn thuần và phác đồ CC kết hợp FSH

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về hội chứng buồng trứng đa nang HCBTĐN

Hội chứng buồng trứng đa nang (HCBTĐN) là một rối loạn nội tiết phổ biến ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản, với tỷ lệ dao động từ 10-20% tùy theo quốc gia và tiêu chuẩn chẩn đoán. HCBTĐN được đặc trưng bởi các triệu chứng lâm sàng như rối loạn kinh nguyệt, rậm lông, mụn trứng cá và béo phì. Các triệu chứng cận lâm sàng bao gồm tăng nồng độ LH, tỷ lệ LH/FSH cao, và hình ảnh siêu âm buồng trứng nhiều nang. HCBTĐN là nguyên nhân hàng đầu gây vô sinh do rối loạn phóng noãn.

1.1. Triệu chứng lâm sàng của HCBTĐN

Các triệu chứng lâm sàng của HCBTĐN bao gồm rối loạn kinh nguyệt (kinh thưa, vô kinh), rậm lông, mụn trứng cá và béo phì. Rối loạn kinh nguyệt là dấu hiệu phổ biến, xuất hiện ở 70-97% bệnh nhân. Rậm lông được đánh giá bằng bảng điểm Ferriman Gallwey, với điểm số trên 8 có giá trị chẩn đoán. Béo phì, đặc biệt là tích mỡ vùng bụng, cũng là một đặc điểm thường gặp, chiếm 30-50% bệnh nhân HCBTĐN.

1.2. Triệu chứng cận lâm sàng của HCBTĐN

Các triệu chứng cận lâm sàng của HCBTĐN bao gồm tăng nồng độ LH, tỷ lệ LH/FSH cao, và hình ảnh siêu âm buồng trứng nhiều nang. Nồng độ LH tăng cao được ghi nhận ở 44-82% bệnh nhân, trong khi tỷ lệ LH/FSH tăng xuất hiện ở 50-68% trường hợp. Hình ảnh siêu âm buồng trứng nhiều nang được xác định khi có trên 12 nang kích thước từ 2-9 mm hoặc thể tích buồng trứng ≥10 cm³.

II. Vai trò của nồng độ LH trong HCBTĐN

Nồng độ LH đóng vai trò quan trọng trong cơ chế bệnh sinh của HCBTĐN. Sự tăng cao LH dẫn đến tăng tổng hợp testosterone, gây ra các triệu chứng cường androgen như rậm lông và mụn trứng cá. LH cũng ảnh hưởng đến quá trình phóng noãn, dẫn đến rối loạn phóng noãn và vô sinh. Nghiên cứu cho thấy nồng độ LH tăng cao là một yếu tố tiên lượng quan trọng trong điều trị HCBTĐN.

2.1. Cơ chế bệnh sinh liên quan đến LH

LH tăng cao kích thích sản xuất androgen ở buồng trứng, dẫn đến các triệu chứng cường androgen. Đồng thời, LH gây rối loạn phóng noãn do mất cân bằng LH/FSH, làm giảm khả năng phát triển và phóng noãn của nang trứng. Điều này giải thích tại sao nồng độ LH cao là một yếu tố quan trọng trong cơ chế bệnh sinh của HCBTĐN.

2.2. Giá trị tiên lượng của nồng độ LH

Nồng độ LH được sử dụng như một yếu tố tiên lượng trong điều trị HCBTĐN. Các nghiên cứu chỉ ra rằng bệnh nhân có nồng độ LH cao thường khó đáp ứng với điều trị bằng Clomiphene Citrate đơn thuần. Do đó, việc theo dõi nồng độ LH giúp xác định phác đồ điều trị phù hợp, đặc biệt là khi kết hợp với FSH.

III. Điều trị vô sinh do HCBTĐN bằng Clomiphene Citrate và FSH

Clomiphene Citrate (CC) là phương pháp điều trị đầu tay cho vô sinh do HCBTĐN. Tuy nhiên, khoảng 30% bệnh nhân không đáp ứng với CC đơn thuần. Kết hợp CC với FSH được chứng minh làm tăng hiệu quả điều trị, đặc biệt ở nhóm bệnh nhân có nồng độ LH cao. Nghiên cứu này tập trung vào sự biến đổi nồng độ LH trong quá trình điều trị và giá trị tiên lượng của nó.

3.1. Hiệu quả của Clomiphene Citrate đơn thuần

Clomiphene Citrate (CC) là thuốc kích thích phóng noãn được sử dụng rộng rãi trong điều trị vô sinh do HCBTĐN. Tuy nhiên, khoảng 30% bệnh nhân không đáp ứng với CC đơn thuần, đặc biệt là nhóm có nồng độ LH cao. Điều này làm tăng thời gian điều trị và ảnh hưởng đến tâm lý bệnh nhân.

3.2. Kết hợp Clomiphene Citrate với FSH

Kết hợp CC với FSH được chứng minh làm tăng tỷ lệ phóng noãn và có thai ở bệnh nhân HCBTĐN. Phác đồ này đặc biệt hiệu quả ở nhóm bệnh nhân có nồng độ LH cao, giúp rút ngắn thời gian điều trị và cải thiện kết quả. Nghiên cứu này nhấn mạnh vai trò của nồng độ LH trong tiên lượng và điều chỉnh phác đồ điều trị.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN 1. Chẩn đoán hội chứng buồng trứng đa nang Hội chứng buồng trứng đa nang là một hội chứng rối loạn nội tiết hay gặp nhất ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản với tần suất trung bình từ 10 – 20% tùy quốc gia, chủng tộc và tiêu chuẩn chẩn đoán. Nghiên cứu của Koivunen R (1999), tỷ lệ hội chứng BTĐN của nhóm phụ nữ từ 20 – 45 tuổi ở Phần Lan là 14,2% [6]. Theo Teharani FR và cộng sự (2011) nghiên cứu trên 1126 phụ nữ Iran tỷ lệ BTĐN dao động từ 7,1% - 14,6% tùy định nghĩa [7].

Một nghiên cứu đa quốc gia của M. Hickey và cộng sự công bố tháng 2 năm 2011 trên trẻ nữ vị thành niên nhận thấy tỷ lệ BTĐN từ 3,1% đến 18,5% [8]. Nghiên cứu của E.Knochenhauer và cộng sự (1998) tại Mỹ thấy tỷ lệ BTĐN ở người da đen (3,4%), trắng (4,0%) theo tiêu chuẩn NIH (The National Institute of Child Health and Human Disease) [9]. Người ta ước tính có khoảng 5 triệu phụ nữ Mỹ trong độ tuổi sinh đẻ có hội chứng BTĐN (NIH 2012).

Các triệu chứng lâm sàng của BTĐN:  Rối loạn kinh nguyệt Kinh nguyệt là tập hợp các thay đổi sinh lý lặp đi lặp lại ở cơ thể người phụ nữ dưới sự điều khiển của hormone sinh dục cần thiết cho quá trình sinh sản và biểu hiện đặc trưng bằng sự ra máu âm đạo định kỳ gọi là hành kinh. Một chu kỳ kinh nguyệt bình thường có hai pha là pha nang noãn và pha hoàng thể kéo dài khoảng 28 ngày khác hẳn với một chu kỳ kinh ra huyết do thay đổi nồng độ hormone như sử dụng thuốc tránh thai, hoặc ra huyết bất thường do các nguyên nhân khác. Nghiên cứu của Laurence A (2009) trên 167 người phụ nữ Mexico đưa ra số ngày chu kỳ kinh trung bình của họ là: 27,7 ± 2,4 ngày [10]. 4 Kinh thưa, kinh không đều hay vô kinh là những rối loạn về kinh nguyệt thường gặp trong hội chứng BTĐN.

Kinh thưa là khi vòng kinh ≥ 35 ngày và vô kinh là không có hành kinh ≥ 3 tháng ở người có tiền sử kinh nguyệt đều và không có hành kinh ≥ 6 tháng ở người có tiền sử kinh nguyệt không đều [11]. Trung bình các nghiên cứu đưa ra tình trạng rối loạn kinh nguyệt gặp ở 70 - 97% các trường hợp BTĐN [12][13]. Năm 1985 Adams và cộng sự nghiên cứu trên 173 bệnh nhân BTĐN thấy có 26% vô kinh, 87% kinh thưa, còn Abdulrazak và cộng sự (2007) thì lại đưa ra tỷ lệ bệnh nhân BTĐN vô kinh, kinh thưa lần lượt là 22% và 43,93% [14][15]. Rối loạn phóng noãn là nguyên nhân gây vô sinh của bệnh nhân BTĐN nên đặc điểm kinh nguyệt rối loạn là đặc điểm lâm sàng rất đặc trưng của nhóm bệnh nhân này.

 Rậm lông, trứng cá: Rậm lông là sự phát triển quá mức của lông mặt hoặc cơ thể, lông có thể xuất hiện ở trên mặt, ngực, bụng dưới, lưng, cánh tay, chân [18]. Thông thường, mỗi sợi lông hay tóc phát triển từ một nang lông nằm sâu trong da phát triển thành hai giai đoạn là lông tơ và lông trưởng thành. Dưới tác dụng của androgen lông tơ chuyển thành lông trưởng thành và không có quá trình biến đổi trở lại [19]. Khi có sự tăng cao androgen, lông tơ ở nhiều vùng trong cơ thể chuyển thành lông trưởng thành gây ra tình trạng rậm lông.

Rậm lông là một triệu chứng của hội chứng BTĐN, có thể làm ảnh hưởng đến thẩm mỹ và chất lượng cuộc sống cho khoảng 10% phụ nữ BTĐN [16][17]. Theo Ashlay Montagu (1989) thống kê nhân trắc học thấy rằng đặc điểm phân bố lông là khác nhau giữa các chủng tộc, đặc biệt là người Châu Á ít lông trên cơ thể hơn người da trắng Châu Âu và 5 người da đen [20]. Nghiên cứu của Adams trên những bệnh nhân siêu âm có hình ảnh buồng trứng nhiều nang thấy khoảng 92% phụ nữ có biểu hiện lâm sàng rậm lông. Nghiên cứu của Abdulrazak trong nhóm BTĐN thì tỷ lệ này là 64,49% [14][15].

Rậm lông được đánh giá dựa trên bảng điểm Ferriman Gallwey với 11 vùng gồm: môi trên, cằm, ngực, lưng, thắt lưng, bụng trên, bụng dưới, cánh tay, cẳng tay, đùi, cẳng tay giá trị trên 8 điểm có ý nghĩa chẩn đoán [21].1: Bảng điểm Ferriman Gallwey [21] 6 Bên cạnh việc gây ra tình trạng rậm lông, sự tăng testosterone dẫn tới tăng DHT (Dyhydro – testosterone) dưới tác động của men 5α – reductase kích thích tăng tế bào sừng cổ nang lông làm chít hẹp đường thoát chất bã lên da và tăng hoạt động chế tiết của tuyến bã dẫn tới ứ trệ chất bã tạo điều kiện thuận lợi cho trứng cá phát triển. Theo một số nghiên cứu cho thấy khoảng 3/4 phụ nữ bị mụn trứng cá có hình ảnh buồng trứng đa nang trên siêu âm. Ngược lại, theo Soodabej Zandi và cộng sự, tỷ lệ BTĐN ở những bệnh nhân da liễu có tình trạng trứng cá là 48,3% [16]. Tỷ lệ rậm lông ở bệnh nhân HC BTĐN Tác giả Năm n % Marcondes et al [22] 2007 73 83,8 Baldani et al [23] 2012 365 73,2 Jedel et al.

Chỉ số khối cơ thể BMI (body mass index) được qui định dùng để đánh giá tình trạng gày, béo và bình thường. Cũng theo nghiên cứu của WHO 2004, không có chỉ số riêng cho từng chủng tộc và quốc gia, chỉ số BMI cut- off 25 là chỉ số có giá trị đánh giá chung trên thế giới theo bảng 1. Công thức tính như sau: W BMI = -------- H2 W: cân nặng tính theo kg H: chiều cao tính theo m 7 Bảng 1.2: Phân loại theo BMI [26] BMI (kg/m2) Phân loại Principal cut-off points Additional cut-off points Gày < 18,50 < 18,50 18,50 – 22,99 Bình thường 18,50 – 24,99 23,00 – 24,99 Béo phì ≥ 25,00 ≥ 25,00 Nguồn: WHO 1995 – WHO 2004 [25][26] Tỷ lệ béo phì chiếm 30-50% phụ nữ buồng trứng đa nang. Susan và các đồng nghiệp chỉ ra rằng sự tăng testosterone kéo dài ở bệnh nhân BTĐN làm tăng tích lũy mỡ bất thường trên cơ thể [27].

Tác dụng này của testosterone được chứng minh khi tác giả Elbers JM (1997) theo dõi những người phụ nữ chuyển giới nam được dùng testosterone thay thế có sự gia tăng chất béo nội tạng và giảm nhạy cảm với insulin gây béo phì, đặc biệt tăng tích lũy mỡ vùng bụng [28]. Như vậy, sự gia tăng testosterone có liên quan tới nguyên nhân rậm lông, trứng cá, béo phì trên bệnh nhân BTĐN. Các nghiên cứu của các nhà khoa học thường cho các chỉ số BMI trung bình của nhóm bệnh nhân BTĐN trên 25 như bảng 1.3: Chỉ số BMI trung bình trong các nghiên cứu Tác giả n BMI Majedah Al-Azemi (2004) [29] 270 28,55 ± 5,5 Atay V (2006) [30] 25,8 ± 1,77 Badawy A (2009) 218 28,1 ± 3,2 [16] 220 27,1 ± 3,1 Lisa (2011) [31] 40 30,1 ± 7,0 Gustavo (2011) [32] 53 29,5 ± 6,9 8 Tương tự như thế, trong nghiên cứu của Abdulrazak và cộng sự cũng đưa ra tỷ lệ bênh nhân BTĐN có chỉ số BMI > 25 là 63,55% [15]. Nhưng trong quá trình nghiên cứu rất nhiều tác giả khác đã nhận thấy có sự khác biệt giữa chỉ số BMI của bệnh nhân BTĐN ở Châu Âu và Châu Á.

Ở Việt Nam, chỉ số BMI trung bình trong nghiên cứu của Bùi Minh Tiến (2010) là 20,4 và nghiên cứu của Vương Thị Ngọc Lan (2009) chỉ có 6,6% số bệnh nhân BTĐN có BMI lớn hơn [33][34]. Các triệu chứng cận lâm sàng:  Định lượng nội tiết Năm 1931, nhà sinh hóa học của Mỹ Fevold HL và cộng sự đã phát hiện hormone luteinizing (LH) và hormone kích thích nang trứng (FSH) [35]. Tiếp sau đó, năm 1958, Mc Arthur và công sự nghiên cứu nồng độ hormone FSH và LH trong nước tiểu ở 122 vòng kinh nhận thấy có sự tăng cao LH ở phụ nữ có hội chứng BTĐN [36]. Các nghiên cứu đưa ra tỷ lệ tăng LH thấy ở 44 - 82% bệnh nhân HCBTĐN.

Tương tự là sự gia tăng của tỷ lệ LH/FSH xuất hiện ở 50-68% các trường hợp BTĐN. Sự gia tăng LH dẫn tới tăng tổng hợp testosterone ở những nang noãn cấp II và cấp III dẫn tới sự gia tăng các đặc điểm cường androgen trên lâm sàng. Các giá trị giới hạn được đưa ra khi nói tới tiêu chuẩn cường androgen bao gồm: + LH > 10 UI/l + LH/FSH > 2 + Testosterone > 1,5 ng/ml  Hình ảnh buồng trứng nhiều nang trên siêu âm (ngày 2-5 chu kỳ): Tăng LH và không đáp ứng insulin dẫn đến sự gia tăng sản xuất androgen có thể đã kích thích buồng trứng sản xuất estrogen, testosterone tạo ra những thay đổi mô học của buồng trứng làm tăng số lượng nang thứ cấp, giảm tỷ lệ phát triển và phóng noãn của buồng trứng. 9 Tiêu chuẩn xác định hình ảnh siêu âm buồng trứng nhiều nang như sau: Có trên 12 nang kích thước từ 2 - 9 mm, hoặc tăng thể tích buồng trứng ≥10 cm3, không cần đến sự phân bố nang hoặc mật độ mô buồng trứng và các đặc điểm trên thể hiện ít nhất ở một buồng trứng.2: Hình ảnh buồng trứng đa nang trên siêu âm  Kháng insulin hoặc rối loạn dung nạp glucose.

Kháng insulin là tình trạng tăng nồng độ insulin hoặc giảm nhạy cảm của insulin với cơ quan đích. Tỷ lệ kháng insulin thay đổi 25 và 70% giữa theo dân tộc và phương pháp chẩn đoán trong các bệnh nhân BTĐN. Cơ chế giải thích mối liên quan giữa kháng insulin với BTĐN chưa rõ ràng, nhưng cơ chế tăng insulin gây tăng tổng hợp testosterone ngăn cản sự phát triển nang noãn, ức chế quá trình thoái hóa nang noãn dẫn tới hiện tượng nhiều nang không thoái hóa nhưng cũng không phát triển gây ra tình trạng buồng trứng nhiều nang là cơ chế được đề cập nhiều nhất. Tuy nhiên, có sự liên quan giữa chỉ số BMI của bệnh nhân BTĐN với tỷ lệ kháng insulin đã được chứng minh [17],[24].3 Các tiêu chuẩn chẩn đoán: Trên thế giới hiện có 3 tiêu chuẩn chẩn đoán Hội chứng BTĐN của NIH/NICHD, ESHRE/ASRM và Androgen Excesse and PCOS Society.

 Tiêu chuẩn NIH (1990) chuẩn đoán khi có cả ba tiêu chuẩn [4]: - Rối loạn kinh nguyệt - Cường androgen - Loại trừ các rối loan khác tương tự.  Theo Hội nghị đồng thuận Rotterdam (2003), ESHRE/ASRM [37] Tiêu chuẩn bệnh nhân được chẩn đoán PCOS khi có 2 trong số 3 triệu chứng sau: - Rối loạn kinh nguyệt: Vô kinh hoặc kinh thưa. - Cường androgen: thể hiện ở triệu chứng lâm sàng hoặc cận lâm sàng. - Triệu chứng siêu âm: có hình ảnh buồng trứng đa nang.

 AES (2006) (Androgen Excess Society) [38] - Cường androgen - Có một trong hai tiêu chuẩn: Rối loạn kinh nguyệt hoặc hình ảnh BTĐN trên siêu âm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu biến đổi nồng độ LH trong tiên lượng điều trị vô sinh do buồng trứng đa nang bằng Clomiphene Citrate và FSH" cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự thay đổi nồng độ hormone LH và ảnh hưởng của nó đến hiệu quả điều trị vô sinh ở phụ nữ mắc hội chứng buồng trứng đa nang. Nghiên cứu này không chỉ giúp các bác sĩ hiểu rõ hơn về cơ chế hoạt động của Clomiphene Citrate và FSH mà còn cung cấp thông tin quý giá cho bệnh nhân trong việc lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các phương pháp điều trị liên quan, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Nghiên cứu giải phẫu mạch máu và thần kinh tuyến giáp trên người Việt Nam trưởng thành, nơi cung cấp thông tin về giải phẫu có thể ảnh hưởng đến các phương pháp điều trị. Ngoài ra, tài liệu Nghiên cứu đáp ứng xơ hóa gan ở bệnh nhân viêm gan virus C cũng có thể mang lại những hiểu biết bổ ích về các liệu pháp điều trị khác trong y học. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Đánh giá hiệu quả ghép xương cho bệnh nhân có khe hở cung hàm, một nghiên cứu liên quan đến các phương pháp điều trị phẫu thuật. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các phương pháp điều trị trong lĩnh vực y học.