Đặt vấn đề Cùng với sự phát triển nhanh số lượng đàn bò trong nước, đàn bò sữa nước ta trong những năm gần đây tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng. Các đàn bò lai F1, F2 dần được thay thế bằng đàn bò lai F3 và bò cao sản được nhập khẩu từ Mỹ, Úc… và vì thế sản lượng sữa tuơi sản xuất trong nước cũng tăng, đáp ứng được một phần nhu cầu tiêu dùng sữa tươi trong nước. Theo Cục Chăn nuôi - Bộ Nông nghiệp, tính đến hết năm 2014, số lượng bò sữa cả nước năm 2014 là 227. Sản lượng sữa trong nước sản xuất ước tính là 549.
Năm 2015 cả nước sản xuất 1,9 tỷ lít quy ra sữa tươi, tăng lên là 2,6 tỷ lít vào năm 2020 và 3,4 tỷ lít tới năm 2025. Tuy nhiên, song hành với ngành chăn nuôi luôn tồn tại các vấn đề như con giống, dinh dưỡng, kỹ thuật chăm sóc, bệnh tật và rác thải chăn nuôi. Trong đó bệnh tật là khâu khó giải quyết nhất, gây thiệt hại lớn nhất, và người chăn nuôi quan tâm nhiều nhất. Đầu tiên và quan trọng nhất phải kể đến nhóm các bệnh truyền nhiễm, tiếp đến là nhóm bệnh ký sinh trùng, các bệnh sản khoa và bệnh viêm vú bò sữa.
Đối với, những bệnh lây lan nhanh, mạnh, khó kiểm soát như bệnh truyền nhiễm thì đã có vaccine can thiệp rất hiệu quả, hay khó điều trị như bệnh ký sinh trùng thì luôn được người chăn nuôi phòng và tẩy trừ từ rất sớm nên 2 nhóm bệnh này thường ít xảy ra trên bò sữa. Duy chỉ có các bệnh sản khoa, bệnh về chân móng và bệnh viêm vú thì rất hay xảy ra trên bò sữa, mà thường không dự báo trước được, gây nhiều khó khăn cho người chăn nuôi. Trong đó, bệnh viêm vú là bệnh phổ biến nhất, gây tổn thất và tốn kém nhất trong số các bệnh của bò sữa trên thế giới. Ở Việt Nam, tỷ lệ bò bị mắc viêm vú chiếm khoảng 40 – 50% tổng đàn bò, tổn thất do bệnh 2 viêm vú lớn gấp 2 lần so với bệnh vô sinh và các bệnh sản khoa khác, chiếm tới khoảng 20% chi phí thú y trong quá trình sản xuất chăn nuôi.
Bệnh viêm vú đã và đang gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi bò sữa. Tại nước ta, đã có nhiều đề tài nghiên cứu và nhiều tài liệu viết về bệnh viêm vú bò sữa. Tuy nhiên, bệnh viêm vú trong những năm qua vẫn chưa được kiểm soát hiệu quả. Xuất phát từ những yêu cầu trên, dưới sự hướng dẫn của thầy giáo Nguyễn Quang Tính, tôi tiến hành đề tài:“ Nghiên cứu bệnh viêm vú ở bò sữa và phác đồ điều trị tại Công ty CP giống bò sữa Mộc Châu, tỉnh Sơn La”.
Mục đích đề tài và yêu cầu của đề tài Có được cái nhìn bao quát hơn về bệnh viêm vú bò sữa Bổ sung thêm tài liệu về bệnh viêm vú bò sữa Xây dựng phác đồ điều trị hiệu quả 1. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học - Từ tình hình mắc bệnh và tỷ lệ mắc bệnh viêm vú bò sữa từ đó đưa ra những phác đồ điều trị hiệu quả, kinh tế và là cơ sở khoa học cho những biện pháp phòng, trị bệnh có hiệu quả.Ý nghĩa thực tiễn - Xác định hiệu lực của một số loại thuốc trong điều trị bệnh viêm vú bò sữa trên thực tiễn chăn nuôi. - Nâng cao kiến thức thực tiễn, tăng khả năng tiếp xúc với thực tế chăn nuôi, điều trị bệnh cho bò sữa từ đó nâng cao và củng cố kiến thức của bản thân.
- Từ kết quả của đề tài để đưa ra những khuyến cáo giúp cho người chăn nuôi hạn chế được những thiệt hại do bệnh gây ra. 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện cở sở nơi thực tập 2. Vài nét cơ bản về Công ty CP giống bò sữa Mộc Châu, tỉnh Sơn La Công ty CP giống bò sữa Mộc Châu, tỉnh Sơn La được thành lập năm 1993, do ông Trần Công Chiến làm giám đốc.
Công ty hiện đang quản lý 135 hộ gia đình Công ty có 43 cán bộ công nhân viên chức, biên chế thành 2 trại chăn nuôi. Công ty quản lý 2 hợp tác xã chăn nuôi bò sữa, 1 xưởng chế biến nhỏ, 1 Trạm nghiên cứu đồng cỏ, 1 Trạm xá, 5 phòng ban chức năng phục vụ cho công tác nghiên cứu và sản xuất. Mộc Châu, với điều kiện tự nhiên và khí hậu thích hợp, đã được quy hoạch thành vùng chăn nuôi bò sữa từ thời Pháp thuộc và đã trở thành “cái nôi” của ngành chăn nuôi bò sữa ở miền Bắc Việt Nam. Đặc biệt từ khi Quyết định 167/2001/QĐ-TT được bạn hành, chăn nuôi bò sữa ở Mộc Châu đã phát triển rất nhanh ở quy mô hộ gia đình.
Trong nhiều năm qua, Trung tâm khuyến nông Quốc gia có sự hợp tác thường xuyên và chặt chẽ với Công ty CP giống bò sữa Mộc Châu, tỉnh Sơn La trong việc tổ chức các lớp đào tạo tập huấn cho bà con nông dân, cán bộ khuyến nông các tỉnh; in ấn sách kỹ thuật, tờ rơi… Trong thời gian tới, Công ty tăng cường tổ chức các lớp đào tạo huấn luyện nhằm chuyển giao các kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ đến bà con nông dân, cán bộ khuyến nông đạt hiệu quả cao. Công ty CP giống bò sữa Mộc Châu, tỉnh Sơn La được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, đã có chính sách đầu tư để thúc đẩy đàn bò sữa lên, 4 vì vậy sản lượng sữa của cả nước cũng như trong vùng Mộc Châu tăng lên đáng kể. Bên cạnh đó Công ty với sự hợp tác Quốc tế để phát triển bò sữa với các tổ chức: Thế giới trong Hài Hòa, JICA – Nhật Bản đội ngũ kỹ thuật trong Công ty được tham gia huấn luyện nâng cao tay nghề và cung cấp các thiết bị kỹ thuật để nghiên cứu và chăm sóc sức khỏe cho đàn bò sữa thuộc Công ty. Chính nhờ được đầu tư đầy đủ, quản lý chặt chẽ và sự chỉ đạo tốt của Công ty mà sức khỏe của bò được cải thiện nhiều, sản lượng sữa ngày càng được nâng cao cả về chất lượng và số lượng.
Điều kiện tự nhiên * Vị trí địa lý Công ty CP giống bò sữa Mộc Châu đóng trên địa bàn huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Mộc Châu là huyện miền núi, cao nguyên và biên giới, nằm ở hướng Đông Nam của tỉnh Sơn La, cách Sơn La 180 km về hướng Tây Bắc, diện tích 2 tự nhiên là 1.081,66 km , chiếm 7,49% diện tích của tỉnh Sơn La, đứng thứ 8 trong số 12 huyện, thành phố của tỉnh Sơn La. Huyện Mộc Châu có Quốc lộ 6, 43 đi qua, có chung đường biên giới với Việt Nam - Lào dài 40,6 km. Mộc Châu có đặc điểm đặc trưng địa hình vùng miền núi Tây Bắc, chia cắt phức tạp, nằm trên hệ thống núi đá vôi, có cao nguyên Mộc Châu với địa hình tương đối bằng phẳng, đất đai màu mỡ, khí hậu mát mẻ, độ cao trung bình khoảng 1.050 m so với mặt nước biển.
Mộc Châu có cả bốn mùa rõ rệt, với đặc điểm nổi bật là vùng khí hậu cao nguyên ôn hòa, mát mẻ quanh năm. Nhiệt độ trung bình/năm khoảng 18- 200C, lượng mưa trung bình/năm khoảng 1.600 mm và độ ẩm không khí trung bình 85%. Cao nguyên Mộc Châu diện tích rộng lớn với điều kiện khí hậu mát mẻ, có vị trí thuận lợi cách Sơn La 180 km, cách Sơn La 120 km, đủ gần để khách 5 đến, đủ xa để khách ở lại; Hệ sinh thái đa dạng, trong đó đặt biệt là vùng thảo nguyên cảnh quan đẹp (đồng cỏ, vườn hoa), khí hậu ôn hòa, với các điểm danh thắng Ngũ Động bản Ôn, thác Dải Yếm, đỉnh Pha Luông, khu hồ sinh thái rừng thông bản Áng, đồi chè, vườn đào, vườn mận, trang trại chăn nuôi bò sữa. Điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội * Tình hình xã hội Nhìn chung tình hình dân cư quanh Công ty còn nghèo, chưa phát triển so với các xã khác của huyện, nhưng mấy năm trở lại đây với sự phát triển của nghề chăn nuôi bò sữa nhiều hộ nông dân đã thoát nghèo và coi nghề chăn nuôi bò sữa là nghề làm giàu và họ quyết định chuyển diện tích trồng lúa, chè, sắn sang chuyên canh trồng cỏ.
Cũng nhờ nghề nuôi bò sữa mà đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện. * Tình hình phát triển kinh tế Quá trình hoạt động và nghiên cứu của Công ty dựa trên nguồn vốn của nhà nước cấp. Mọi chính sách đối với người lao động đều được giải quyết theo đúng quy định của pháp luật do vậy tạo được tâm lý thoải mái và tin tưởng cho người lao động * Cơ cấu tổ chức quản lý của Công ty Công ty có 43 cán bộ công nhân viên chức biên chế thành 2 trại chăn nuôi. Trong đó: + Trình độ tiến sĩ: 01 + Thạc sĩ: 06 + Kĩ sư: 31 + Công nhân: 05 Công ty quản lý 2 hợp tác xã chăn nuôi bò sữa, 1 xưởng chế biến nhỏ, 1 trạm nghiên cứu đồng cỏ, 1 trạm xá, 5 phòng ban chức năng phục vụ cho 6 công tác nghiên cứu và sản xuất.
Tình hình sản xuất của cơ sở 2. Tình hình chăn nuôi bò sữa tại Việt Nam. Chăn nuôi bò sữa ở Việt Nam đã bắt đầu từ hơn nữa thế kỷ trước, vào năm 1962 nước ta nhập 30 con bò lang trắng đen từ Trung Quốc, nuôi tại Mộc Châu, năng suất chưa tới 2000kg/chu kì, sau đó chuyển lên Mộc Châu, năng suất đạt trên 3000kg/chu kì. Từ năm 1970 - 1978 nhập thêm khoảng 1900 con bò HF từ Cuba, nuôi tại nông trường Mộc Châu tỉnh Sơn La (phía Bắc) và Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng (phía Nam), năng suất đạt từ 3800 - 4200kg/chu kì (Nguyễn Văn Thưởng, 2006).
Năm 1985 cả nước có 5,8 nghìn bò sữa nuôi tập trung trong các trại của nhà nước. Năm 1990 hình thức chăn nuôi nông hộ bắt đầu được áp dụng tại Việt Nam và chăn nuôi bò sữa lúc đó mới thực sự phát triển từ năm 2001 đến 2005, để đáp ứng nhu cầu con giống, Bộ NN - PTNT đã nhập từ Mỹ 192 con HF và Jersey thuần, đực và cái, nuôi tại Mộc Châu để xây dựng đàn hạt nhân cái và sản xuất tinh bò đực. Một số tỉnh và trại tư nhân cũng nhập 10.164 con HF thuần và con lai HF x Jersey từ Úc (8815con), New Zealand (1149 con) và cả Thailand (200 con) để khai thác sữa (Cục Chăn nuôi, 2006). Năm 2004 tổng đàn bò sữa gấp 2,73 lần so với năm 2000.