Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Nghiên cứu bệnh viêm ruột tiêu chảy do Parvovirus gây ra ở chó 1. Đặc điểm bệnh Bệnh viêm ruột tiêu chảy là bệnh truyền nhiễm do Parvovirus gây ra với đặc điểm tiêu chảy, phân lẫn máu, giảm thiểu số lượng bạch cầu, tỷ lệ tử vong cao trên chó con.
Đây là bệnh gây ảnh hưởng rất lớn cho ngành chăn nuôi ở phần lớn các quốc gia trên thế giới. Theo Tạ Thị Vịnh (1991) [44] bệnh tiêu chảy là hiện tượng ỉa nhanh, nhiều lần, trong phân có nhiều nước do ruột tăng cường co bóp. Bệnh do Parvovirus đã được ghi nhận lần đầu tiên ở nước ta vào năm 1990 trên chó nghiệp vụ và bệnh lây lan rộng rất nhanh. Chó con dưới 6 tháng tuổi khi mắc bệnh tỷ lệ chết rất cao 60-70% (Trần Thanh Phong, 1996) [24].
Theo Hồ Văn Nam và cs (1997) [21] bệnh xảy ra ở mọi lứa tuổi, đặc biệt trên chó nhập nội bị bệnh có tỷ lệ chết cao 70-80%. Phân loại và đặc tính sinh học của Parvovirus * Phân loại: Họ: Parvoviridae Giống: Parvovirus Loài: Canine Parvovirus type 2 Parvovirus type 1 không gây bệnh (Trần Thanh Phong, 1996) [24]. * Đặc tính sinh học của Parvovirus: Hình thái và cấu trúc: Là một ADN đơn vi rút không có vỏ bọc, rất gần gũi với vi rút Panleucopénie ở mèo và vi rút viêm ruột ở chồn, capsid là hạt hình cầu đối xứng khối, đường kính 18-22nm, cấu tạo từ 32 capsomer (đơn vị hình thái) (Trần Thanh Phong, 1996) [24], (Taylor C. Sức đề kháng với môi trường bên ngoài: Trong phân thì vi rút có thể tồn tại hơn 6 tháng ở nhiệt độ phòng.
Nó đề kháng với tác động của Ete, Chloroforme, axit và nhiệt độ (560C trong 30 phút) Không nhạy cảm đối với tác động của chất dung môi hữu cơ và NH4 nhưng bị hủy diệt bởi sút và nước Javel (Trần Thanh Phong, 1996) [24]. 4 Đặc tính nuôi cấy của vi rút Vi rút chỉ nhân lên trong nhân tế bào và gây bệnh tích tế bào Cyto Pathogen Effect (CPE) trên tế bào tim chó con còn bú hay trên tế bào ruột, tế bào lymphocyte của chó trong thời kỳ cai sữa những tế bào trong thời kỳ gián phân thích hợp nhất. Đặc tính kháng nguyên: Sự nhân lên của Parvovirus ở chó làm xuất hiện kháng thể gây ức chế phản ứng ngưng kết hồng cầu và phản ứng trung hòa huyết thanh. Kháng thể ức chế phản ứng ngưng kết hồng cầu xuất hiện vào ngày thứ hai hoặc ngày thứ ba sau khi nhiễm.
Phản ứng này được sử dụng trong chẩn đoán huyết thanh học. Phản ứng trung hòa huyết thanh rất khó thực hiện trong phòng thí nghiệm (Nguyễn Phước Trung, 2002) [41], (Nguyễn Như Pho, 2003) [23]. Khả năng miễn dịch Sau khi nhiễm bệnh, chó có miễn dịch kéo dài trong 3 năm, hiệu giá kháng thể trung hòa hay ngăn trở ngưng kết hồng cầu trên những chó này sẽ lên rất cao. Những chó con sinh ra trong khoảng thời gian này chó cảm nhiễm ở 9-2 tuần tuổi.
Sau 2-3 năm thì hiệu giá kháng thể sẽ giảm thấp, chó con sinh ra có thể cảm nhiễm Parvovirus sớm hơn vào lúc 5-6 tuần tuổi (Trần Thanh Phong, 1996) [24]. Một số kháng nguyên tương đồng giữa những dòng Parvovirus khác nhau ở thú thịt: vi rút Panleucopenie felien (FPV), vi rút gây viêm ruột ở chồn (MEV). Sự tương đồng này có thể phát hiện bởi phản ứng trung hòa và phản ứng HI. Mặc dù có sự tương đồng kháng nguyên nhưng nó có những giới hạn riêng biệt trong tự nhiên, FPV chỉ gây nhiễm cho mèo, MEV chỉ gây nhiễm cho chồn và CPV chỉ gây nhiễm cho chó.
Dịch tễ học * Loài vật mắc bệnh: Chó ở mọi lứa tuổi, đặc biệt là chó non từ 1-6 tháng tuổi rất hay mắc. Ở chó trưởng thành, bệnh thường không gây chết nhưng chó thường mang và đào thải vi rút, đó là nguồn bệnh nguy hiểm. Vi rút Parvo còn gây bệnh cho cáo, chồn và các loài chó hoang dã. Người ta còn phát hiện 2 chủng CPV2a và CPV2b ở mèo và họ nhà mèo, nhưng hầu như không gây bệnh cho chúng.
Vi rút Parvo chỉ nguy hiểm trong loài chó, không gây bệnh cho loài chim, họ nhà mèo và con người, nhưng các yếu tố “trung gian” này lại có thể mang mầm bệnh làm lây lan các ổ dịch lớn cho chó, nhưng có thể lây vi rút qua tiếp xúc. Ngoài ra người, lợn.cũng mắc bệnh do Parvovirus. 5 * Chất chứa mầm bệnh và con đường truyền lây: Chất chứa mầm bệnh: Theo Berns K.I (1990) [46] phân, nước tiểu, nước bọt nhưng quan trọng nhất là phân. Cách truyền lây: Lây gián tiếp qua sự tiếp xúc tới môi trường vấy bẩn phân thú hoặc trực tiếp từ chó bệnh sang chó khỏe.
Đường xâm nhập: Theo Trần Thanh Phong (1996) [24] vi rút xâm nhập chủ yếu qua đường miệng. Vi rút này tồn tại trên quần áo, thức ăn, sàn nhà, lồng nuôi có thể đến 5 tháng và lâu hơn trong các điều kiện thuận lợi nên việc thăm viếng, vuốt ve cũng là một nguy cơ lớn để bệnh lây lan. Vi rút Parvo có thể sống trong môi trường thiên nhiên có ánh sáng mặt trời 5 tháng, bóng tối 7 tháng, trong nhà ở có vệ sinh hàng ngày 1 tháng. Côn trùng và động vật gặm nhấm cũng có thể là vector truyền bệnh đóng vai trò quan trọng.
Sự lây lan bệnh qua đường ruột là chủ yếu do con vật nuốt phải mầm bệnh. Số lượng vi rút nhiễm vào cơ thể cũng rất cần thiết, đó cũng là một yếu tố để gây bệnh lâm sàng. Việc tiếp xúc với chó mang vi rút ở tần số và cường độ cao cũng làm tăng khả năng mắc bệnh này. * Tính cảm thụ: Cảm thụ 100% đối với những quần thể chó chưa nhiễm, những chó lớn có miễn dịch do sự tiêm phòng hay cảm nhiễm tự nhiên.
Bệnh thường được biểu hiện trên chó con từ 6 tuần-6 tháng tuổi. Trong tuần lễ đầu của đời sống, miễn dịch từ mẹ truyền sang qua sữa đầu, giúp thú được phòng vệ với bệnh. Những kháng thể này sẽ được thải loại hết trong khoảng 6-10 tuần tuổi, lúc này chó con trở nên dễ cảm thụ nhất. Theo thời gian lượng kháng thể của con sẽ giảm dần từ kháng thể từ mẹ truyền sang cũng liên quan trực tiếp với tốc độ tăng trưởng của chó con.
Những chó con đẹp nhất, tăng trưởng tốt nhất thường nhiễm bệnh đầu tiên (Nguyễn Như Pho, 2003) [23]. Theo nhận định của Huỳnh Tấn Phát (2001) [22] tỷ lệ nhiễm bệnh do Parvovirus ở chó con dưới 6 tháng tuổi có thể dao động từ 20-100%. Tóm lại: sự biến mất kháng thể nguồn gốc từ mẹ khiến chó con dễ cảm thụ với vi rút gây bệnh. Điều này sẽ xảy ra rất sớm khi lượng kháng thể thấp vào lúc đẻ, như vậy lượng kháng thể đưa vào mỗi chó con thấp cùng với sự tăng trưởng nhanh của chó con (Trần Thanh Phong, 1996) [24].
Ở những chó con không có kháng thể mẹ truyền, vi rút thường gây bệnh tích trên cơ tim và gây ra bệnh ở dạng tim mạch. 6 * Cơ chế sinh bệnh: Vi rút xâm nhập bằng đường miệng và mũi, thải ra ngoài qua phân. Sau khi xâm nhập đầu tiên vi rút nhân lên trong các mô lympho ở vùng hầu họng và vào máu gây viêm, gây nhiễm trùng huyết vào ngày thứ 2 và ngày thứ 5, từ đó tạo phản ứng miễn dịch và kháng thể có thể xuất hiện vào ngày thứ 5 và thứ 6. Trong thời gian này vi rút có thể được thải ra ngoài qua phân vào ngày thứ 4, tối đa là vào ngày thứ 5, sau đó giảm dần và chấm dứt vào ngày thứ 9.
Trong quá trình gây nhiễm trùng huyết, vi rút đồng thời nhân lên ở tế bào lympho và tế bào tủy xương dẫn đến giảm thiểu số lượng bạch cầu, hậu quả là làm suy giảm miễn dịch (McCandlish I, 1999) [56]. Vi rút nhân lên trong tế bào ruột dẫn đến hoại tử biểu mô ruột bào mòn nhung mao ruột, giảm hấp thu và tiêu chảy rồi chết. Theo Hồ Văn Nam và cs (1997) [21], Phạm Ngọc Thạch và cs (2006) [27], Phạm Ngọc Thạch, Chu Đức Thắng (2009) [28] niêm mạc dạ dày, ruột bị kích thích bởi các nguyên nhân gây bệnh làm trở ngại nghiêm trọng đến cơ năng vận động và tiết dịch của dạ dày, ruột, các mô bào của vách dạ dày, ruột bị phá hủy, đồng thời các vi khuẩn trong ruột phát triển mạnh, phân giải các chất chứa thành các sản vật độc ngấm vào máu gây trúng độc cho cơ thể. Trong quá trình viêm, niêm mạc dạ dày ruột, bị sung huyết, xuyết huyết, lớp niêm mạc thượng bì bị bong tróc, thối rữa protein trong ruột càng trở lên nghiêm trọng.
Những sản phẩm bị phân giải từ protein như Indol, Scatol, H2S.ngấm vào máu, ức chế thần kinh trung ương làm ảnh hưởng đến tiêu hóa của dạ dày, ruột dẫn đến con vật ỉa chảy dữ dội. Do kết quả của quá trình phân giải các chất chứa trong dạ dày, ruột và protein làm con vật sốt cao, ỉa chảy mạnh, cơ thể mất nước và chất điện giải, kết quả con vật bị trúng độc, hôn mê đến chết. Ngoài ra còn có thể gây viêm kế phát đến tim, gan, thận, lách, vi rút còn nhân lên ở tế bào cơ tim gây viêm cơ tim cấp tính và cũng phát triển ở tế bào lympho, tế bào tủy xương dẫn đến giảm thiểu số lượng bạch cầu, làm cơ thể suy giảm miễn dịch. Các nghiên cứu đã chứng minh rằng chỉ cần đưa một lượng nhỏ Parvovirus bằng 100 liều gây nhiễm mô nuôi cấy DICT (Dose Infectieuse Culture de Tisu) đủ gây nhiễm cho chó.
Điều này cho phép dự báo về tác hại do có lượng quá lớn vi rút trong phân (10 tỷ DICT/g phân) chó mắc bệnh (Trần Thanh Phong, 1996) [24], (Nguyễn Như Pho, 2003) [23]. Triệu chứng Triệu chứng chủ yếu của bệnh là viêm ruột tiêu chảy, và thường biểu hiện ở 3 dạng: - Dạng đường ruột: Dạng này rất giống với bệnh Panleucopénie ở mèo. Thời gian nung bệnh từ 3-4 ngày. Giai đoạn đầu chó thể hiện các triệu chứng: ủ rũ, mệt mỏi, bỏ ăn, nằm lì một chỗ, nôn mửa cho đến khi hết thức ăn trong dạ dày, 24 giờ sau bắt đầu tiêu chảy có máu.
Ngày thứ tư và thứ năm của tiến trình bệnh bệnh thì phân có màu xám đỏ (Nguyễn Phước Trung, 2002) [41], (Nguyễn Như Pho, 2003) [23]. Chó suy sụp nhanh chóng do mất máu, thiếu máu, hạ protein, nội độc tố sinh ra gây nhiễm độc huyết endotoxemia, suy giảm các loại bạch cầu phòng vệ.