Tổng quan luận án
Cây sắn (Manihot esculenta Crantz) là cây lương thực và nguyên liệu công nghiệp phục vụ chế biến tinh bột, thức ăn gia súc và nhiên liệu sinh học. Tại Việt Nam, sắn thuộc nhóm 10 mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực và nằm trong định hướng chiến lược phát triển đến năm 2020 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Tuy nhiên, sản xuất sắn tại các tỉnh phía Nam đối mặt với sự bùng phát của bệnh chổi phù thủy (còn gọi là bệnh chổi rồng). Bệnh được ghi nhận xuất hiện rải rác từ năm 2005 trên giống sắn KM94 tại Quảng Ngãi, sau đó lây lan thành dịch tại các vùng trồng sắn trọng điểm thuộc vùng Đông Nam Bộ như Bà Rịa - Vũng Tàu và Đồng Nai. Theo số liệu ghi nhận của Nguyên Khê (2011), bệnh làm giảm năng suất củ từ 10% đến 30% và làm suy giảm hàm lượng tinh bột từ 20% đến 30%. Do nguyên nhân gây bệnh ban đầu chưa được xác định chính xác bằng phương pháp khoa học, việc áp dụng các loại thuốc trừ nấm để xử lý hom giống và phun phòng trừ trên đồng ruộng không mang lại hiệu quả, đặt ra yêu cầu phải làm rõ căn nguyên vi sinh vật và phương thức lan truyền của bệnh.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra là tại Việt Nam, các nghiên cứu cơ bản trước đây về vi sinh vật nhóm phytoplasma trên cây trồng còn rất hạn chế. Bệnh chổi phù thủy hại sắn là một bệnh mới, chưa được chẩn đoán tác nhân ở mức độ phân tử, chưa xác định được vị trí phân loại của các chủng phân lập và chưa có dữ liệu thực nghiệm về cơ chế lan truyền bệnh trong điều kiện canh tác tại các tỉnh Đông Nam Bộ.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án gồm:
- Chẩn đoán và phân loại được phytoplasma gây hại trên cây sắn tại một số tỉnh Đông Nam Bộ.
- Đánh giá được một số đặc điểm sinh học chính như tính gây bệnh và khả năng lan truyền của phytoplasma gây bệnh chổi phù thủy hại sắn.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Khu hệ phytoplasma gây hại trên cây sắn, tập trung vào lĩnh vực chẩn đoán hiển vi, chẩn đoán phân tử, vị trí phân loại và các đặc tính sinh học (phương thức truyền qua đất, hom giống, ghép cây, tơ hồng và côn trùng).
- Phạm vi không gian: Điều tra đồng ruộng và thu thập mẫu bệnh tại các tỉnh Đông Nam Bộ gồm Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, cùng các mẫu đối chứng thu thập bổ sung tại Phú Thọ, Yên Bái, Quảng Ngãi và Kon Tum. Các thí nghiệm lây nhiễm sinh học được thực hiện tại Trung tâm Nghiên cứu thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc. Các phân tích hiển vi điện tử và sinh học phân tử được triển khai tại Viện Bảo vệ thực vật và Trung tâm Nghiên cứu Bệnh cây nhiệt đới.
- Phạm vi thời gian: Các nội dung điều tra, thu thập mẫu và thực nghiệm được tiến hành trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2014.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Phytoplasma là nhóm sinh vật nhân sơ thuộc lớp Mollicutes, bộ Acholeplasmatales, ngành Firmicutes, ký sinh bắt buộc trong tế bào ống rây thuộc mạch phloem của thực vật và trong cơ thể côn trùng môi giới (IRPCM, 2004; Hogenhout và cs., 2008). Phytoplasma có đặc điểm không có vách tế bào, kích thước nhỏ dưới 1 µm, hình thái biến dạng (bầu dục, ovan, hình tròn hoặc sợi ngắn) và không nuôi cấy được trên môi trường nhân tạo vô trùng (Bertaccini và Duduk, 2009). Theo quy chuẩn của Nhóm nghiên cứu phân loại phytoplasma thuộc IRPCM (2004), phân loại phytoplasma dựa trên trình tự đoạn gen 16S rRNA với tiêu chí loài mới khi độ tương đồng chuỗi nucleotide đạt dưới 97,5% trên đoạn dài trên 1,2 kb so với các loài đã công bố. Dựa vào vùng gen này, các chủng phytoplasma trên thế giới được xếp vào 33 nhóm phả hệ (16SrI đến 16SrXXXIII) với trên 116 nhóm phụ.
Về cơ chế gây bệnh, phytoplasma cư trú trong ống rây gây tắc nghẽn quá trình vận chuyển sản phẩm quang hợp từ mô nguồn xuống mô tiêu thụ. Ở cấp độ phân tử, các nghiên cứu công bố chỉ ra các protein hiệu ứng (effector) do phytoplasma tiết ra làm biến đổi hình thái cây chủ:
- Protein SAP11 (từ chủng AY-WB nhóm 16SrI) tương tác với α-importin để đi vào nhân tế bào cây, làm mất ổn định các yếu tố phiên mã TEOSINTE BRANCHED 1, CYCLOIDEA, PROLIFERATING CELL FACTOR 1/2 và CINCINNATA, kích thích sinh chồi nách và cản trở sự già hóa mô (Sugio và Hogenhout, 2012; Marcone, 2014).
- Protein SAP54 tương tác với protein RAD23 của cây chủ, gây phân hủy hai yếu tố phiên mã APETALA1 và LEAFY, dẫn đến hiện tượng diệp hóa hoa (MacLean và cs., 2011).
- Protein TENGU (từ chủng OY-M) hoạt động tại tế bào chất mô ngọn, ức chế sinh tổng hợp auxin, kích thích mọc chồi bên tạo triệu chứng chổi phù thủy điển hình (Hoshi và cs., 2009; Sugawara và cs., 2013).
Về phương thức truyền lan, phytoplasma truyền qua nhân giống vô tính (hom giống, mắt ghép, củ giống), truyền qua dây tơ hồng (Cuscuta spp.) và truyền qua côn trùng môi giới thuộc bộ Hemiptera (chủ yếu là họ Rầy xanh Cicadellidae với 80 loài, Cixiidae 7 loài, Delphacidae 4 loài, Psyllidae 7 loài). Phytoplasma truyền theo phương thức tích lũy bền vững, phải vượt qua biểu mô ruột giữa và xâm nhập vào tuyến nước bọt của côn trùng (Weintraub và Beanland, 2006). Phytoplasma không truyền qua hạt giống vì mô mạch rây không đi sâu vào phôi hạt (Finch-Savage, 2013).
Trên cây sắn thế giới, phytoplasma gắn liền với 3 dạng bệnh: bệnh chổi phù thủy, bệnh biến vàng lá và bệnh da cóc:
- Bệnh chổi phù thủy phát hiện lần đầu tại Brazil và Mexico do MLO gây ra (Costa và Kitajima, 1972). Tại Brazil, tỷ lệ bệnh đạt 85%, làm giảm 70% đến 90% năng suất củ (Lozano, 1992; Flôres và cs., 2013). Davis và cs. (2005) định danh chủng phytoplasma gây bệnh chổi phù thủy tại đảo Wallis-Futuna thuộc nhóm 16SrI-A (mã AY787139). Flôres và cs. (2013) xác định chủng phytoplasma tại São Paulo thuộc nhóm phụ 16SrIII-B (mã GU193977). Alvarez và cs. (2014) xác định phytoplasma gây bệnh chổi phù thủy tại Campuchia thuộc nhóm 16SrI. Zheng (2013) ghi nhận nhóm 16SrII hại sắn tại Trung Quốc. Klinkong và cs. (2015) và Moonjuntha và cs. (2015) ghi nhận nhóm 16SrI và 16SrII tại Thái Lan.
- Bệnh biến vàng lá sắn tại Uganda thuộc nhóm 16SrII-C (Arocha và cs., 2009a) và tại Cuba thuộc nhóm 16SrI (Arocha và cs., 2009b).
- Bệnh da cóc tại Colombia và các nước Nam Mỹ do phytoplasma nhóm 16SrIII-L gây ra (Alvarez và cs., 2009).
- Báo cáo tổng hợp của Mejia (2014) phân tích 92 mẫu sắn Đông Nam Á phát hiện sự có mặt của các nhóm 16SrI, 16SrIII, 16SrV, 16SrVI, 16SrX, 16SrXII và 16SrXV.
| Nhóm 16Sr RNA ribosome |
Dạng bệnh ghi nhận |
Nguồn gốc mẫu |
Tài liệu trích dẫn |
| 16SrI |
Chổi phù thủy, biến vàng lá, da cóc |
Wallis-Futuna, Cuba, Costa Rica, Paraguay, Campuchia, Thái Lan, Việt Nam |
Davis và cs. (2005); Arocha và cs. (2009b); Alvarez và cs. (2013, 2014); Klinkong và cs. (2015); Mejia (2014) |
| 16SrII |
Biến vàng lá, chổi phù thủy |
Uganda, Trung Quốc, Thái Lan |
Arocha và cs. (2009a); Zheng (2013); Moonjuntha và cs. (2015) |
| 16SrIII |
Da cóc, chổi phù thủy |
Colombia, Brazil, Costa Rica, Paraguay, Việt Nam, Thái Lan |
Alvarez và cs. (2009); Flôres và cs. (2013); Souza và cs. (2014); Oliveira và cs. (2014); Mejia (2014) |
| 16SrV, 16SrVI |
Chổi phù thủy |
Việt Nam, Thái Lan |
Mejia (2014) |
| 16SrX |
Chổi phù thủy |
Việt Nam |
Mejia (2014) |
| 16SrXII |
Chổi phù thủy, da cóc |
Costa Rica, Paraguay, Việt Nam, Thái Lan |
Mejia (2014) |
| 16SrXV |
Chổi phù thủy |
Việt Nam, Thái Lan |
Mejia (2014) |
Tại Việt Nam, nghiên cứu phytoplasma trước đây tập trung vào bệnh vàng héo lá lúa do rầy xanh đuôi đen (Nephotettix virescens và Nephotettix nigropictus) truyền lan (Hà Minh Trung, 1985; Ngô Vĩnh Viễn, 1993), bệnh chồi cỏ và trắng lá mía, lùn bụi ngô, khảm lá cà phê, diệp hóa vừng (Vũ Triệu Mân và cs., 2002; Trần Thị Thanh Bình và cs., 2011; Huỳnh Đăng Sang và cs., 2014). Luận án của Nguyễn Đức Thành điền vào khoảng trống còn thiếu về việc xác định căn bản tác nhân phytoplasma hại sắn ở vùng Đông Nam Bộ, thiết lập hệ thống định danh kết hợp giữa kính hiển vi, PCR lồng, RFLP, kỹ thuật LAMP đẳng nhiệt và kiểm chứng các phương thức truyền lan thực tế.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên lý thuyết phân loại phân tử của IRPCM (2004) đối với chi Candidatus Phytoplasma dựa trên vùng gen bảo thủ 16S rRNA. Phương pháp tiếp cận kết hợp giữa hình thái tế bào, phân tích sinh học phân tử và khảo nghiệm đặc tính sinh học trong điều kiện có kiểm soát.
Vật liệu nghiên cứu:
- Nguồn mẫu bệnh: Hom sắn mang triệu chứng bệnh chổi phù thủy thuộc các giống KM94, KM419 và SM937-26 thu thập tại ruộng sản xuất của nông dân các tỉnh Đông Nam Bộ. Đối chứng âm sử dụng hom sắn giống KM94 sạch bệnh.
- Dây tơ hồng (Cuscuta spp.) phục vụ thí nghiệm truyền bệnh nhân tạo.
- Côn trùng bẫy đèn thu thập tại các ruộng sắn bị bệnh tại Đồng Nai.
Phương pháp chẩn đoán hiển vi và tế bào học:
- Kính hiển vi điện tử truyền qua (TEM): Quan sát lát cắt siêu mỏng mô cuống lá và gân lá sắn nhiễm bệnh trên máy JEOL 1010 tại Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương để xác định sự hiện diện, hình thái và kích thước của các thể phytoplasma trong tế bào ống rây.
- Kỹ thuật nhuộm huỳnh quang DAPI: Cắt lát mô mạch dẫn cuống lá, nhuộm với 4',6-diamidino-2-phenylindole (DAPI), kích hoạt bằng bước sóng cực tím 450 - 490 nm trên kính hiển vi huỳnh quang. Kỹ thuật này khai thác đặc điểm hệ gen phytoplasma rất giàu cặp bazơ AT (72 - 79%) để phát hiện huỳnh quang xanh đặc trưng tại mô phloem.
Phương pháp sinh học phân tử và phân tích phả hệ:
- Tách chiết DNA tổng số: Áp dụng phương pháp CTAB cải tiến theo Doyle và Doyle (1990).
- Kỹ thuật PCR lồng (Nested PCR): Vòng 1 sử dụng cặp mồi phổ quát P1/P7 (Deng và Hiruki, 1991; Schneider và cs., 1995) hoặc R16mF2/R16mR1; vòng 2 sử dụng sản phẩm vòng 1 pha loãng làm khuôn với cặp mồi bên trong R16F2n/R16R2 (Gundersen và Lee, 1996) để khuếch đại đoạn gen đích khoảng 1,2 kb.
- Tinh sạch sản phẩm PCR: Dùng bộ kít QIAquick Gel Extraction Kit (Qiagen).
- Phân tích RFLP mô phỏng: Trình tự nucleotide sau giải trình tự được phân tích cắt hạn chế ảo bằng phần mềm pDRAW32 với 17 enzym cắt giới hạn chuẩn (AluI, BfaI, BstUI, DraI, EcoRI, HaeIII, HhaI, HinfI, HpaI, HpaII, KpnI, Sau3AI, MseI, RsaI, SspI, TaqI, ThaI) để xác định kiểu đa hình và phân nhóm phụ.
- Xây dựng cây phả hệ: Xử lý chuỗi nucleotide bằng phần mềm BioEdit 7 và ClustalW2; thiết lập cây phát sinh chủng loại bằng thuật toán Neighbor-Joining trong phần mềm MEGA 5 với phép kiểm định bootstrap 1.000 lần lặp.
- Thiết kế và ứng dụng LAMP-PCR: Thiết kế bộ mồi chuyên biệt 6 vùng gồm 4 mồi (F3, B3, FIP, BIP) đặc hiệu cho phân nhóm 16SrII dựa trên vùng gen 16S rRNA để tối ưu hóa phản ứng nhân gen đẳng nhiệt tại 63 - 65°C mà không cần chu trình nhiệt phức tạp.
Phương pháp thực nghiệm sinh học:
- Thí nghiệm khảo sát vai trò của đất trồng và hom giống: Bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn toàn (CRD) trong nhà lưới tại Hưng Lộc. Các công thức bao gồm kết hợp giữa hom giống sạch bệnh/hom giống bệnh với đất lấy từ ruộng sắn bị bệnh và đất sạch bệnh nhằm kiểm tra khả năng lưu tồn qua đất.
- Thí nghiệm lây truyền qua ghép cây: Ghép ngọn hoặc mắt ghép từ cây sắn bệnh sang cây sắn sạch bệnh.
- Thí nghiệm truyền bệnh qua tơ hồng: Thiết lập cầu nối tơ hồng giữa cây sắn nhiễm bệnh sang cây sắn sạch và cây dừa cạn (Catharanthus roseus).
- Thí nghiệm lây truyền bằng côn trùng: Thu thập các loài rầy bằng bẫy đèn tại vùng dịch Đồng Nai, phân loại sơ bộ, nuôi hút nạp trên cây sắn bệnh và thả sang cây sắn khỏe để theo dõi sự xuất hiện triệu chứng.
- Xử lý số liệu: Phân tích phương sai (ANOVA) bằng phần mềm thống kê IRRISTAT 4.0.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1. Tính cấp thiết của đề tài
Nêu bật vị trí của cây sắn trong cơ cấu xuất khẩu nông nghiệp Việt Nam và thực trạng bùng phát nghiêm trọng của bệnh chổi phù thủy từ năm 2005 tại Quảng Ngãi đến các vùng trồng tập trung ở Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu giai đoạn 2010 - 2014. Xác lập tính cấp bách của việc xác định nguyên nhân gây bệnh để thay thế việc sử dụng thuốc hóa học không hiệu quả. Đặt ra hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể, xác định đối tượng là phytoplasma và giới hạn phạm vi nghiên cứu thực địa tại Đông Nam Bộ cùng một số điểm đối chứng tại miền Bắc và miền Trung.
Phần 2. Tổng quan tài liệu
Tổng hợp toàn diện 4 nhóm nội dung lớn: (1) Lược sử, giá trị sử dụng và tình hình sản xuất sắn tại Việt Nam và trên thế giới; (2) Bản chất học thuật về phytoplasma: lịch sử phát hiện từ khái niệm MLO năm 1967 sang phytoplasma năm 1994, vị trí phân loại học theo IRPCM với 33 nhóm 16Sr, đặc điểm hình thái không vách tế bào, triệu chứng bệnh học, cơ chế phân tử của các protein tiết (SAP11, SAP54, TENGU), phương thức lan truyền qua nhân giống sinh dưỡng, tơ hồng và côn trùng bộ Hemiptera; (3) Điểm lại các nghiên cứu bệnh phytoplasma hại sắn trên phạm vi toàn cầu từ năm 1972 đến 2015, nhấn mạnh các nhóm phân loại 16SrI, 16SrII và 16SrIII tại châu Mỹ, châu Phi và Đông Nam Á; (4) Khái quát lịch sử nghiên cứu phytoplasma tại Việt Nam từ công trình nghiên cứu bệnh vàng héo lá lúa thập niên 1980 đến các bệnh trắng lá mía và chồi cỏ mía.
Phần 3. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
Trình bày chi tiết nguồn vật liệu hom sắn (KM94, KM419, SM937-26), địa điểm thực hiện (Viện Bảo vệ thực vật, Trung tâm Nghiên cứu Bệnh cây nhiệt đới, Trung tâm Hưng Lộc). Quy định rõ quy trình thao tác kỹ thuật cho từng nội dung: quy chuẩn điều tra tỷ lệ bệnh ngoài đồng ruộng; quy trình cố định mẫu, cắt siêu mỏng và soi kính hiển vi điện tử JEOL 1010; quy trình nhuộm huỳnh quang DAPI; thành phần phản ứng và chu trình nhiệt của phản ứng PCR lồng với các cặp mồi P1/P7, R16mF2/R16mR1 và R16F2n/R16R2; phương pháp mô phỏng cắt hạn chế enzyme bằng pDRAW32; thuật toán dựng cây phả hệ trong MEGA 5; nguyên lý thiết kế và quy trình vận hành phản ứng LAMP đẳng nhiệt; thiết kế các thí nghiệm truyền lan sinh học trong điều kiện nhà lưới có kiểm soát.
Phần 4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Kết quả nghiên cứu được tổ chức thành 5 mục chuyên sâu:
4.1. Mô tả triệu chứng và điều tra mức độ phổ biến của bệnh chổi phù thuỷ hại sắn
Mô tả chi tiết bệnh học ngoài đồng ruộng: cây bị bệnh có biểu hiện mọc nhiều chồi phụ nhỏ dày đặc ở phần ngọn và nách thân chính, lóng thân co ngắn lại, phiến lá nhỏ, mép lá hơi lượn sóng và chuyển màu vàng nhạt hoặc úa vàng. Cây còi cọc nghiêm trọng, không phát triển được bộ tán bình thường. Số liệu điều tra năm 2011 tại các tỉnh Đông Nam Bộ cho thấy bệnh xuất hiện phổ biến tại hầu hết các vùng trồng tập trung ở Đồng Nai và Bà Rịa - Vũng Tàu với tỷ lệ hại rất cao, tạo thành các ổ dịch nghiêm trọng.
4.2. Phát hiện phytoplasma hại sắn bằng kính hiển vi điện tử, nhuộm mô và PCR
- Hiển vi điện tử truyền qua (TEM): Trong các lát cắt cuống lá và gân lá của cây bệnh đợt 1 và đợt 2 (năm 2011), quan sát thấy dày đặc các thể vi sinh vật không có vách tế bào, dạng hình ovan, bầu dục hoặc tròn, giới hạn bởi lớp màng đôi, đường kính dao động từ 100 nm đến 800 nm nằm trong xoang tế bào ống rây mạch phloem. Các mẫu sắn khỏe đối chứng hoàn toàn không có cấu trúc này.
- Nhuộm huỳnh quang DAPI (năm 2014): Lát cắt mô bệnh cho tín hiệu huỳnh quang màu xanh sáng tập trung rõ nét dọc theo các dải tế bào mạch rây dưới ánh sáng kích hoạt UV 450 - 490 nm, trong khi mẫu sắn khỏe chỉ phát huỳnh quang tự nhiên mờ nhạt ở thành tế bào hóa gỗ.
- Khuếch đại PCR lồng: Cả hai hệ thống mồi lồng (P1/P7 kết hợp R16F2n/R16R2 và P1/P7 kết hợp R16mF2/R16mR1) đều khuếch đại thành công phân đoạn DNA đặc hiệu có kích thước khoảng 1,2 kb từ các mẫu sắn bệnh thu thập tại Đông Nam Bộ và các tỉnh khác, khẳng định sự hiện diện nhất quán của phytoplasma trong mô cây sắn biểu hiện triệu chứng chổi phù thủy.
4.3. Định danh phân tử và phân tích phả hệ phytoplasma hại sắn
- Giải trình tự và tra cứu BLAST: Trình tự các sản phẩm PCR lồng được giải mã và đối chiếu trên cơ sở dữ liệu GenBank cho thấy độ tương đồng nucleotide cao (>98 - 99%) với các chủng phytoplasma đã công bố. Luận án đã đăng ký thành công các trình tự phytoplasma hại sắn phân lập từ Việt Nam lên Ngân hàng Gen quốc tế.
- Phân tích RFLP mô phỏng bằng pDRAW32: Bản đồ cắt của 17 enzym cắt hạn chế trên đoạn gen 16S rRNA chỉ ra các mẫu phytoplasma hại sắn tại Việt Nam phân tách rõ rệt thành hai nhóm chính:
- Nhóm tương đồng với nhóm 16SrI (Aster yellows phytoplasma group).
- Nhóm tương đồng với nhóm 16SrII (Peanut witches' broom phytoplasma group).
- Phân tích phả hệ bằng thuật toán Neighbor-Joining:
- Các phân lập phytoplasma hại sắn phổ biến tại Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu thuộc nhóm phụ 16SrII-A (có quan hệ di truyền rất gần với phytoplasma gây bệnh chổi phù thủy trên đậu phộng).
- Một số phân lập khác được xác định thuộc nhóm phụ 16SrI-B.
- Đáng chú ý, phân lập ký hiệu YB-01 (mã truy cập GenBank: KM360166) thu thập tại Yên Bái thuộc nhóm 16SrI nhưng có hồ sơ đa hình cắt hạn chế RFLP và vị trí nhánh phả hệ tách biệt hoàn toàn so với tất cả các nhóm phụ đã biết, đại diện cho một phân nhóm phụ mới chưa từng được công bố trên thế giới.
4.4. Ứng dụng kỹ thuật LAMP-PCR để chẩn đoán phytoplasma nhóm 16SrII hại sắn
Từ việc xác định nhóm 16SrII là nhóm gây hại chính tại vùng Đông Nam Bộ, tác giả đã thiết kế bộ mồi LAMP cải tiến dựa trên 8 đoạn trình tự đặc thù trên gen 16S rRNA.
- Thử nghiệm trên DNA tổng số tách chiết từ cây và sản phẩm PCR tinh sạch: Phản ứng LAMP nhân bản đẳng nhiệt tại 63 - 65°C trong vòng 45 - 60 phút cho kết quả phát hiện chính xác phytoplasma nhóm 16SrII mà không cần máy luân nhiệt chu kỳ.
- Đánh giá trên các loại mô sắn khác nhau (cuống lá, phiến lá, vỏ thân): Phản ứng cho kết quả khuếch đại ổn định, sản phẩm điện di có dạng thang vạch đặc trưng của kỹ thuật LAMP, mở ra quy trình chẩn đoán nhanh phục vụ kiểm dịch và kiểm định giống.
4.5. Xác định một số đặc điểm sinh học của bệnh chổi phù thuỷ hại sắn
- Vai trò của đất trồng và hom giống (thí nghiệm năm 2012 và 2013 tại Đồng Nai):
- Đất lấy từ ruộng sắn bị bệnh không làm lây nhiễm bệnh sang cây sắn phát triển từ hom giống khỏe sạch bệnh (tỷ lệ bệnh đạt 0%).
- Ngược lại, hom giống lấy từ cây bị bệnh đem trồng trên đất sạch hay đất bệnh đều phát triển thành cây có triệu chứng chổi phù thủy với tỷ lệ rất cao (100% cây biểu hiện triệu chứng bệnh).
- Kết quả khẳng định bệnh không truyền lan và không lưu tồn qua đất trồng, mà hom giống nhiễm bệnh là nguồn lây lan ban đầu có tính quyết định.
- Lan truyền qua ghép cây: Thực nghiệm ghép cành/mắt ghép từ cây sắn bệnh sang cây sắn khỏe sạch bệnh cho thấy phytoplasma di chuyển qua cầu mạch dẫn, làm xuất hiện triệu chứng chổi phù thủy điển hình trên cây ghép sạch bệnh sau thời gian ủ bệnh.
- Lan truyền qua tơ hồng (Cuscuta spp.): Tơ hồng kết nối thành công mạch phloem giữa cây sắn bệnh và cây nhận, truyền được phytoplasma từ sắn bệnh sang cây sắn khỏe và cây dừa cạn thí nghiệm.
- Khảo sát côn trùng môi giới: Bẫy đèn tại ruộng sắn Đồng Nai thu được nhiều loài rầy thuộc bộ Hemiptera. Tuy nhiên, các thử nghiệm lây truyền nhân tạo từ các cá thể rầy thu thập được sang cây sắn khỏe chưa ghi nhận được kết quả truyền bệnh thành công ổn định, phản ánh sự tương đồng với các y văn quốc tế khi côn trùng môi giới tự nhiên của phytoplasma hại sắn vẫn là bài toán chưa có lời giải dứt điểm trong suốt 43 năm (1972 - 2015).
Phần 5. Kết luận và kiến nghị
Tổng kết 5 kết luận chính về tác nhân (phytoplasma thuộc nhóm 16SrI và 16SrII), phát hiện nhóm phụ mới YB-01, quy trình chẩn đoán (DAPI, nested-PCR, LAMP-PCR) và con đường truyền bệnh chủ yếu qua hom giống. Đưa ra các kiến nghị thực tiễn về việc kiểm soát vận chuyển hom giống và xây dựng hệ thống sản xuất hom giống sạch bệnh.
Kết quả và những đóng góp mới
Các đóng góp mới về mặt khoa học của luận án bao gồm:
- Xác định chính xác nguyên nhân gây bệnh chổi phù thủy hại sắn tại Việt Nam là do phytoplasma (thuộc chi Candidatus Phytoplasma) gây ra, chấm dứt tình trạng suy đoán không có cơ sở khoa học dẫn đến việc dùng thuốc diệt nấm sai mục đích.
- Phân loại và lập bản đồ phân tử khu hệ phytoplasma hại sắn tại Việt Nam: Xác định phytoplasma hại sắn thuộc ít nhất 2 nhóm phân loại gồm nhóm 16SrI (với phân nhóm phụ 16SrI-B) và nhóm 16SrII (với phân nhóm phụ 16SrII-A). Trong đó, nhóm 16SrII-A là tác nhân chủ yếu tại các tỉnh Đông Nam Bộ.
- Phát hiện mẫu phân lập phytoplasma YB-01 (mã số Ngân hàng Gen: KM360166) thu thập trên sắn tại Yên Bái thuộc nhóm 16SrI nhưng nằm trong một phân nhóm phụ hoàn toàn mới, chưa từng được ghi nhận trong cơ sở dữ liệu phytoplasma quốc tế.
- Áp dụng thành công kỹ thuật nhuộm huỳnh quang mô DAPI để phát hiện nhanh thể phytoplasma trên hệ thống mô rây cây sắn tại Việt Nam.
- Thiết kế thành công bộ mồi LAMP-PCR đặc hiệu phát hiện nhóm 16SrII hại sắn, xây dựng quy trình chẩn đoán đẳng nhiệt có độ nhạy và độ đặc hiệu cao, rút ngắn thời gian phát hiện mẫu bệnh.
- Cung cấp luận cứ thực nghiệm xác định con đường truyền bệnh chủ yếu của bệnh chổi phù thủy sắn trong sản xuất là qua hom giống vô tính mang nguồn bệnh; bệnh không truyền lan qua đất trồng.
Các giải pháp và kiến nghị đề xuất từ kết quả nghiên cứu:
- Biện pháp then chốt để quản lý và ngăn chặn bệnh chổi phù thủy hại sắn là sử dụng nguồn hom giống sạch bệnh và tuyệt đối không vận chuyển hom giống từ vùng đang có dịch (như Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu) sang các vùng trồng mới hoặc vùng chưa bị nhiễm bệnh.
- Nhổ bỏ và tiêu hủy triệt để tàn dư cây bệnh ngay khi phát hiện triệu chứng trên ruộng để cắt đứt nguồn lây lan.
- Ứng dụng quy trình chẩn đoán phân tử bằng PCR lồng và bộ mồi LAMP-PCR nhóm 16SrII vào công tác kiểm định chất lượng hom giống sắn tại các trung tâm giống cây trồng và cơ quan kiểm dịch thực vật.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Chưa xác định được loài côn trùng môi giới cụ thể có khả năng truyền phytoplasma gây bệnh chổi phù thủy hại sắn trong điều kiện tự nhiên tại Việt Nam (các thử nghiệm lây bệnh nhân tạo từ rầy bẫy đèn chưa tạo được triệu chứng ổn định).
- Các thực nghiệm đánh giá khả năng truyền lan sinh học mới chỉ dừng lại ở phạm vi chậu vại trong điều kiện nhà lưới có kiểm soát, chưa theo dõi được động thái tương tác phức tạp trên quy mô hệ sinh thái đồng ruộng rộng lớn.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Tiếp tục mở rộng điều tra thành phần loài côn trùng chích hút (đặc biệt là các loài rầy xanh thuộc họ Cicadellidae và rầy thuộc phân bộ Auchenorrhyncha) sống trên tán cây sắn và cỏ dại xung quanh ruộng để xác định chính xác vector môi giới truyền bệnh.
- Nghiên cứu đánh giá mức độ kháng/nhiễm bệnh chổi phù thủy của tập đoàn các giống sắn đang sản xuất và triển vọng nhằm tuyển chọn các giống chống chịu tốt cung cấp cho vùng dịch Đông Nam Bộ.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:
- Cán bộ nghiên cứu chuyên ngành Bảo vệ thực vật và Vi sinh vật học: Tham khảo hệ thống dẫn liệu phân loại phân tử phytoplasma, quy trình phân tích RFLP ảo bằng phần mềm pDRAW32, và quy chuẩn dựng cây phả hệ bằng thuật toán Neighbor-Joining trên gen 16S rRNA.
- Cán bộ kỹ thuật kiểm dịch thực vật và kiểm định giống: Ứng dụng trực tiếp bộ mồi LAMP-PCR đặc hiệu cho nhóm 16SrII và quy trình nhuộm huỳnh quang DAPI để chẩn đoán nhanh phytoplasma trên hom giống sắn thương phẩm mà không cần đầu tư hệ thống giải trình tự đắt tiền.
- Cơ quan quản lý nông nghiệp và cán bộ khuyến nông: Sử dụng các số liệu thực nghiệm về đường truyền qua hom giống để ban hành các quy định quản lý, hướng dẫn nông dân tuyệt đối không dùng hom từ cây bệnh làm giống, thay đổi hoàn toàn thói quen dùng thuốc hóa học trừ nấm sai quy trình.
Câu hỏi thường gặp
1. Tác nhân gây bệnh chổi phù thuỷ hại sắn tại Đông Nam Bộ được xác định là gì và thuộc nhóm phân loại nào?
Tác nhân gây bệnh chổi phù thủy hại sắn tại Đông Nam Bộ được xác định là phytoplasma (sinh vật nhân sơ không vách tế bào thuộc chi Candidatus Phytoplasma). Dựa trên phân tích trình tự vùng gen 16S rRNA và phân tích RFLP mô phỏng, phytoplasma hại sắn tại vùng này thuộc nhóm 16SrII (cụ thể là nhóm phụ 16SrII-A). Ngoài ra, nghiên cứu còn ghi nhận sự hiện diện của nhóm 16SrI (nhóm phụ 16SrI-B) trên cây sắn tại Việt Nam.
2. Mẫu phytoplasma phân lập YB-01 tại Yên Bái có điểm gì đặc biệt?
Mẫu phân lập YB-01 thu thập từ sắn tại Yên Bái (đã đăng ký trên GenBank với mã số KM360166) được giải trình tự và phân tích RFLP mô phỏng cho thấy thuộc nhóm 16SrI, tuy nhiên mẫu này sở hữu các đặc điểm cắt enzyme giới hạn và vị trí nhánh phát sinh chủng loại hoàn toàn tách biệt, được xác định là một phân nhóm phụ mới chưa từng được công bố trên thế giới.
3. Bộ mồi LAMP-PCR được thiết kế trong luận án có ưu điểm gì trong chẩn đoán?
Bộ mồi LAMP-PCR gồm 4 mồi (F3, B3, FIP, BIP) nhận diện đặc hiệu 6 vùng trình tự trên gen 16S rRNA của phytoplasma nhóm 16SrII. Phương pháp này có độ nhạy rất cao, cho phép khuếch đại đẳng nhiệt ở nhiệt độ ổn định (63 - 65°C) trong 45 - 60 phút chỉ bằng bể ủ nhiệt hoặc nồi cách thủy, không phụ thuộc vào máy luân nhiệt chu kỳ PCR, rất thuận tiện cho việc phát hiện nhanh tại chỗ.
4. Bệnh chổi phù thuỷ sắn có truyền qua đất trồng và hạt giống hay không?
Thực nghiệm chậu vại trong nhà lưới cho thấy cây sắn sạch bệnh trồng trên đất lấy từ ruộng sắn bị dịch bệnh hoàn toàn không bị nhiễm bệnh (tỷ lệ bệnh 0%). Kết hợp với cơ sở lý thuyết về cấu tạo hạt (mạch rây không nối vào phôi hạt), luận án xác định bệnh không lan truyền qua đất trồng và không truyền qua hạt giống. Con đường lan truyền chủ yếu và nguy hiểm nhất là qua hom giống vô tính bị nhiễm bệnh.
5. Cơ sở khoa học của phương pháp nhuộm mô DAPI để phát hiện phytoplasma là gì?
Thuốc nhuộm DAPI (4',6-diamidino-2-phenylindole) có ái lực liên kết mạnh với các vùng giàu cặp base Adenine - Thymine (A-T) trên DNA. Bộ gen của phytoplasma có hàm lượng A-T chiếm tỷ lệ rất cao (72% đến 79%). Khi nhuộm lát cắt mô mạch dẫn cuống lá sắn và quan sát dưới kính hiển vi huỳnh quang với bước sóng kích hoạt UV 450 - 490 nm, phytoplasma trong các ống rây mạch phloem sẽ phát ánh sáng huỳnh quang xanh rõ rệt, cho phép phân biệt với mô cây khỏe không bị nhiễm.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Nguyễn Đức Thành đã giải quyết triệt để nghi vấn khoa học về căn nguyên bệnh chổi phù thủy hại sắn tại Đông Nam Bộ bằng cách chứng minh bệnh do phytoplasma gây ra, với tác nhân chủ đạo thuộc nhóm phụ 16SrII-A bên cạnh sự hiện diện của nhóm phụ 16SrI-B và một phân nhóm phụ mới (YB-01). Nghiên cứu đã xây dựng thành công bộ công cụ chẩn đoán hoàn chỉnh từ hiển vi huỳnh quang DAPI, PCR lồng đến kỹ thuật nhân gen đẳng nhiệt LAMP-PCR chuyên biệt cho nhóm 16SrII. Kết quả thực nghiệm sinh học khẳng định phương thức lan truyền quyết định của bệnh là qua nguồn hom giống vô tính mang mầm bệnh chứ không qua đất trồng, cung cấp cơ sở khoa học trực tiếp cho công tác phòng trừ dịch bệnh thông qua việc kiểm soát giống sạch bệnh tại các tỉnh Đông Nam Bộ.