MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Từ lâu, chó được con người thuần hóa và coi như là người bạn gần gũi, thân thiện. Chó dễ nuôi, trung thành với chủ, các giác quan phát triển, thông minh, nhanh nhẹn và có tính thích nghi cao với điều kiện sống khác nhau. Do vậy, chó được nuôi phổ biến ở khắp nơi trên thế giới, phục vụ các mục đích khác nhau.
Hiện nay trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc, chó đã được đưa vào huấn luyện làm chó nghiệp vụ. Chó nghiệp vụ được coi là một loại vũ khí đặc biệt trong chiến đấu, chó được tuyển chọn, huấn luyện để làm những nhiệm vụ được chỉ bảo, kể cả dùng trong nhiệm vụ an ninh, quốc phòng và trong lĩnh vực dân sự. Loại chó nghiệp vụ được biết đến nhiều nhất là chó Becgie Đức. Chó nghiệp vụ được trang bị về các đơn vị làm nhiệm vụ tuần tra, canh gác, phát hiện ma túy, phát hiện chất nổ; chúng đã góp phần không nhỏ giúp các chiến sĩ hoàn thành nhiệm vụ.
Khí hậu Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều, là điều kiện thuận lợi cho ký sinh trùng sinh sôi phát triển. Các nhà khoa học nước ta đã xác định được một số loài ký sinh ở chó, trong đó bệnh mò bao lông ở chó (Demodicosis) là một bệnh khá phổ biến. Bệnh mò bao lông ở chó hay còn gọi là bệnh ghẻ chó có khả năng lây lan nhanh, khó khăn trong điều trị dứt điểm, xảy ra ở hầu hết các giống chó do Demodex canis gây nên (Ravera I và cs. Demodicosis là một trong những bệnh ký sinh trùng phổ biến trên chó nuôi.
Mò Demodex canis ký sinh trong bao nang lông và tuyến bã nhờn của da gây viêm ngứa và tổn thương da, làm giảm sút sức đề kháng của vật nuôi dẫn đến những bệnh kế phát nguy hiểm khác. Trường Trung cấp 24 Biên phòng nơi đang nuôi và huấn luyện hơn 500 chú chó, chủ yếu thuộc các giống Bergie (Đức), Malinois (Bỉ), Labrador (Mỹ). Ngoài ra, trường đang nhân giống chó Malinois vì chúng có khứu giác LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 phát triển và phù hợp với khả năng huấn luyện phát hiện ma túy, chất nổ, tìm kiếm cứu nạn. Bệnh mò bao lông do Demodex canis là một trong số các bệnh phổ biến ở chó nghiệp vụ được nuôi tại Trường, gây ảnh hưởng lớn tới sức khỏe của chó, là một căn bệnh khó điều trị dứt điểm, tuy nhiên, những nghiên cứu về căn bệnh này trên chó đặc biệt tại khu vực còn rất ít.
Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi tiến hành “Nghiên cứu bệnh do Demodex canis gây ra trên chó nghiệp vụ tại Trường Trung cấp 24 Biên phòng và dùng thuốc điều trị”. Mục tiêu nghiên cứu - Xác định được đặc điểm dịch tễ bệnh do Demodex canis ở chó (yếu tố lứa tuổi, tính biệt, mùa vụ, độ dài lông); - Nghiên cứu được đặc điểm triệu chứng lâm sàng của chó bị bệnh do Demodex canis; - Ứng dụng thuốc điều trị Demodex canis đạt hiệu quả cao cho chó. Ý nghĩa khoa học của đề tài Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học bổ sung và hoàn thiện thêm các nghiên cứu về đặc điểm dịch tễ học và triệu chứng lâm sàng của bệnh do Demodex canis gây bệnh trên chó tại Trường Trung cấp 24 Biên phòng. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Kết quả nghiên cứu của đề tài cung cấp những đặc điểm dịch tễ họccủa bệnh do Demodex canis trên chó, từ đó có cơ sở cho chẩn đoán, phòngtrị bệnh trên từng đối tượng chó và thời điểm trong năm tại trường Trung cấp 24 Biên phòng cũng như cơ sở nuôi chó nghiệp vụ khác, góp phần khống chế bệnh trong thực tiễn.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Cấu tạo và sinh lý da chó 1. Cấu tạo da chó Biểu bì: Là lớp ngoài cùng của da, gồm nhiều tế bào biểu mô dẹp.
Tầng tế bào biểu bì ngoài cùng là những tế bào chết đã hoá sừng. Tầng tế bào biểu bì trong cùng là những tế bào sống hình đa giác, có khả năng sinh trưởng không ngừng. Trong lớp tế bào biểu bì không có mạch máu tới, dinh dưỡng thực hiện nhờ sự thẩm thấu từ các mao mạch bên dưới. Lớp này có tác dụng: Lót mặt ngoài và bảo vệ cơ thể nhờ sự sừng hoá.
Chứa sắc tố bào, là những tế bào tạo ra sắc tố có tác dụng chống tia bức xạ. Biểu bì không chứa mạch máu nên vi khuẩn không xâm nhập vào cơ thể nếu vết thương chưa sâu đến lớp chân bì. Cấu trúc của da LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Chân bì: Là lớp mô liên kết sợi vững chắc nằm dưới lớp biểu bì, chứa nhiều mạch máu và thần kinh, kết cấu gồm 98% sợi keo và 1,5% sợi đàn hồi. Lớp này quyết định tính bền và tính đàn hồi của da.
Chân bì gồm 3 lớp: Lớp nhú, lớp hình diện và lớp dạng gân. Lớp nhú: nằm ngay sát biểu bì, mỗi nhú là một khối mô liên kết thưa không có hướng nhất định, ở đó ngoài thành phần mô liên kết còn chứa tương bào và một số bạch cầu. Đôi khi có những bó cơ trơn tạo thành cơ dựng lông. Lớp hình diện: là phần mô liên kết nằm song song với bề mặt da, lớp này chứa nhiều sợi keo và sợi đàn hồi, mạch máu, mạch bạch huyết, các sợi thần kinh và đầu thần kinh như tiểu thể Meissner, tiểu thể Golgi Mazzoni.
Lớp dạng gân: tạo bởi mô liên kết với nhiều sợi chạy song song bề mặt da và nén chặt nhau. Ở đây chỉ có mạch máu chạy xuyên qua chứ không phân nhánh cũng có những đầu thần kinh có bao. Hạ bì: là mô liên kết mỡ được ngăn thành nhiều thùy và tiểu thùy bởi những bó sợi tạo keo. Hạ bì chủ yếu là mô liên kết có chứa tiểu động mạch, tiểu tĩnh mạch, mạch bạch huyết, các sợi thần kinh và các đầu mút thần kinh.
Sự tuần hoàn và hệ thống thần kinh của da chó Mạch máu: Những động mạch và tĩnh mạch của da nối với nhau bằng lưới mao mạch chạy song song với bề mặt của da. Nhờ vậy mà da đảm nhận nhiều chức năng. Hệ động mạch và tĩnh mạch sẽ tạo thành 2 lưới mạch máu: lưới mạch máu nông và lưới mạch máu sâu. Lưới mạch máu sâu: Những mạch máu từ lớp dưới da tiến vào hạ bì rồi lên đến lớp dưới chân bì và phân nhánh tạo ra dưới dạng động mạch sâu.
Lưới mạch máu nông: Từ lưới động mạch sâu sẽ phân nhánh tạo ra những động mạch nhỏ xuyên qua lớp dạng gân của chân bì lên tới lớp dưới nhú và tạo thành lưới mao mạch nông. Lớp này lại phân nhánh để tạo ra những mao mạch hình quai để tiếp xúc với tĩnh mạch của nhú. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Mạch bạch huyết: Bắt nguồn từ những mao mạch kín nằm trong nhú chân bì sau đó đổ vào lưới mao mạch bạch huyết dưới nhú đến tầng sâu của chân bì tạo thành lưới bạch huyết trong chân bì. Từ lưới này lại đổ vào tĩnh mạch bạch huyết rồi xuyên qua hạ bì để đến tĩnh mạch bạch huyết rồi xuyên qua hạ bì để đến tĩnh mạch bạch huyết dưới da.
Thần kinh: Những nhánh thần kinh của da có hai nguồn gốc: giao cảm và não tuỷ. Những nhánh thần kinh này đan với nhau tạo thành những đám rối ở hạ bì. Những yếu tố phụ thuộc da Lông chó: Lông là cấu trúc không có sự sống, được tạo bởi phần nang lông. Bên ngoài sợi lông là lớp keratin đã hoá sừng, bên trong là keratin lỏng lẻo.
Nang được bao bọc bởi nhu mô liên kết thuộc lớp hạ bì. Lông có hình trụ dài, cắm sâu vào trong da và gồm có 2 phần: thân lông và chân lông. Thân lông: Trồi lên trên mặt da, cấu tạo gồm có: Tủy lông: ở chính giữa trục lông, chứa những tế bào chưa hóa sừng, còn nhân, nếu ở gia súc lông lớn và có màu sắc thì tế bào có chứa những hạt sắc tố. Giữa các tế bào có khoang chứa không khí, nhờ vậy lông có tính không dẫn nhiệt.
Màng vỏ lông: cấu tạo bởi những tế bào dẹp xếp thành lớp đã hóa sừng, không có nhân, không có sắc tố. Hình thái và cách sắp xếp của vảy này tùy loại gia súc. Chân lông: Nằm sâu trong da, đó là vùng dinh dưỡng sinh trưởng của lông. Thân lông không cắm chéo đối với bề mặt da.
Phần tận cùng của chân lông phình to gọi là củ lông. Cắt dọc theo chân lông có 2 phần: Ngoài cùng là bao sợi liên kết, trong là bẹ lông, là phần kéo dài của biểu bì da. Tuyến bã: Vị trí thường nằm giữa chân lông và cơ dựng lông, có vai trò tiết ra chất làm mềm da và lông, ức chế vi khuẩn phát triển. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Tuyến mồ hôi Vị trí nằm sâu trong lớp chân bì.
Tuyến mồ hôi là những tuyến ống. Tùy theo tính chất của chất tiết mà tuyến mồ hôi được phân thành hai loại: Loại tiết dịch đậm đặc: có nhiều hạt protid và có mùi riêng biệt đối với từng loài, có khi với từng cá thể. Loại tiết dịch loãng: không mùi, thường có ở những vùng lông ít hay không có lông. Tuyến sữa: Là loại tuyến mồ hôi biến đổi để thích ứng với chức phận tạo sữa, tuyến này chỉ thấy trên gia súc cái, tuyến sữa là một khối tròn dẹp nằm trong hạ bì đẩy da phồng lên.
Chức năng sinh lý của da Chức năng bài tiết Tiết mồ hôi: giữ vai trò quan trọng trong điều hòa thân nhiệt. Tiết chất béo: có vai trò ức chế sự phát triển của vi khuẩn. Chức năng bảo vệ Bảo vệ cơ thể tránh những ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài như: những va chạm cơ học, sự xâm nhập của vi sinh vật gây bệnh, ngăn cản sự xâm nhập của tia tử ngoại và hóa chất… Điều hòa thân nhiệt. Dự trữ mỡ và nước.
Truyền các tín hiệu hoá học ra xung quanh Duy trì tính chất không thay đổi của môi trường bên trong cơ thể. Cung cấp cảm giác về áp lực, nhiệt độ, đau, tiếp xúc. Tổng hợp 7 - dehydrocholesterol để chuyển thành vitamin D3 bởi tia cực tím. Da tham gia quá trình trao đổi chất, hô hấp nhờ mạng lưới mao mạch và các tuyến nằm ở da.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Một số yếu tố ảnh hưởng đến bệnh về da Môi trường: Môi trường xung quanh có thể là nguồn lây nhiễm các ngoại ký sinh trùng.