Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số vấn đề lý luận về sử dụng đất nông nghiệp 1. Đất nông nghiệp và vai trò của đất nông nghiệp trong sự phát triển nền sản xuất nông nghiệp 1. Khái niệm về đất đai Cho đến nay đã có nhiều nhà thổ nhưỡng, nhà quản lý đưa ra những khái niệm, định nghĩa về đất.
Khái niệm đầu tiên được nhiều người biết đến là của nhà thổ nhưỡng Nga Đocutraiep (1897) cho rằng “Đất là một vật thể thiên nhiên cấu tạo độc lập lâu đời do kết quả của quá trình tác động tổng hợp của 5 yếu tố hình thành đất: sinh vật, đá mẹ, khí hậu, địa hình và thời gian” (dẫn theo hội Khoa học Đất Việt Nam, 2000). Học giả người Anh Wiliam định nghĩa “Đất là lớp mặt tơi xốp của lục địa có khả năng tạo ra sản phẩm cho cây trồng”. Theo quan điểm của các nhà kinh tế, thổ nhưỡng và quy hoạch Việt Nam: “Đất là phần trên mặt của vỏ trái đất mà ở đó cây trồng có thể sinh trưởng và phát triển được” và đất là một cấu thành của đất đai. (dẫn theo Trần Văn Chính và cs.
Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất bao gồm các yếu tố cấu thành của môi trường sinh thái ngay bên trên và dưới bề mặt đó như: Khí hậu thời tiết, thổ nhưỡng, địa hình, mặt nước (hồ, sông suối…), các dạng trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn thực vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả nghiên cứu trong quá khứ và hiện tại để lại (dẫn theo Nguyễn Khang và cs. Như vậy, đất đai là một khoảng không gian có giới hạn gồm: Khí hậu, lớp đất bề mặt, thảm thực vật, động vật, diện tích mặt nước, nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất. Trên bề mặt đất đai là sự kết hợp giữa các yếu tố thổ nhưỡng, địa hình, thuỷ văn, thảm thực vật cùng với các thành phần khác có vai trò quan trọng và ý nghĩa to lớn đối với hoạt động sản xuất và cuộc sống của xã hội loài người. Khái niệm đất nông nghiệp Luật Đất đai (2013) quy định, đất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp (Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2013).
Trong nông nghiệp, đất đai vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu lao động. Như vậy đất đai không chỉ là chỗ đứng, chỗ tựa của lao động mà còn cung cấp dinh dưỡng nuôi cây trồng và thông qua sự phát triển của trồng trọt tạo điều kiện cho ngành chăn nuôi phát triển. Với ý nghĩa đó, đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, là cơ sở tự nhiên sản sinh ra của cải vật chất cho xã hội. Ở nước ta với hơn 70% dân số làm nông nghiệp nên vấn đề phát triển nông nghiệp là mặt trận hàng đầu tạo cơ sở vững chắc cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước (Lê Phong Du, 2007).
Vai trò của đất đối với sản xuất nông nghiệp Đất đóng vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, là cơ sở tự nhiên, là tiền đề cho mọi quá trình sản xuất. Đất vừa là đối tượng lao động vừa là tư liệu lao động trong quá trình sản xuất. Đất là đối tượng lao động bởi lẽ nó là nơi để con người thực hiện các hoạt động của mình tác động vào cây trồng, vật nuôi để tạo ra sản phẩm. Bên cạnh đó, đất đai còn là tư liệu lao động trong quá trình sản xuất thông qua việc con người đã biết lợi dụng một cách ý thức các đặc tính tự nhiên của đất như lý học, hoá học, sinh vật học và các tính chất khác để tác động và giúp cây trồng tạo nên sản phẩm (Vũ Khắc Hòa, 1996).
Đất có vị trí cố định và có chất lượng không đồng đều giữa các vùng, miền. Mỗi vùng đất luôn gắn liền với các điều kiện tự nhiên (thổ nhưỡng, khí hậu, nước, thảm thực vật), điều kiện kinh tế - xã hội như (dân số, lao động, giao thông, thị trường). Do vậy, muốn sử dụng đất hợp lý, có hiệu quả cần xác định cơ cấu cây trồng, vật nuôi cho phù hợp trên cơ sở nắm chắc điều kiện của từng vùng lãnh thổ. Đất là tư liệu sản xuất không thể thay thế trong sản xuất nông nghiệp nếu 5 biết sử dụng hợp lý thì sức sản xuất của đất sẽ ngày càng tăng lên.
Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy diện tích đất tự nhiên nói chung và đất nông nghiệp nói riêng có hạn và chúng không thể tự sinh sôi. Trong khi đó, áp lực từ sự gia tăng dân số, sự phát triển của xã hội đã và đang làm đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do chuyển đổi sang mục đích phi nông nghiệp như xây dựng cơ sở hạ tầng, các khu đô thị, khu công nghiệp… đã làm cho đất đai ngày càng khan hiếm về số lượng, giảm về mặt chất lượng và hạn chế khả năng sản xuất. Sử dụng đất một cách hợp lý, có hiệu quả và bền vững là một trong những điều kiện quan trọng nhất để phát triển nền kinh tế của mọi quốc gia (Đặng Kim Sơn, 2008). Hiện nay trên thế giới có khoảng 3,3 tỷ ha đất nông nghiệp, trong đó đã khai thác được 1,5 tỷ ha, còn lại đa phần là đất xấu, sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn.
Quy mô đất nông nghiệp lại phân bố không đều giữa các châu lục và ngay giữa các quốc gia trong cùng một châu lục: tại Châu Mỹ diện tích đất chiếm 35% diện tích đất Thế giới, châu Á chiếm 26%, châu Âu chỉ chiếm 13%, châu Phi chiếm 20%, châu Đại Dương chiếm 6%. Bình quân đất trồng trọt/đầu người trên toàn thế giới năm 2011 là 2.100 m2/người, gấp 2 lần so với bình quân chung của thế giới.000m2/người, ở Nhật Bản 300m2/người, Trung Quốc là 800m2/người, Campuchia 2.700 m2/người, Thái Lan 2. Nông nghiệp là một ngành sản xuất dựa vào đất nhưng chiếm tỷ trọng không nhỏ trong cơ cấu kinh tế của nhiều nước trên thế giới. Đặc biệt ở các nước đang phát triển, sản xuất nông nghiệp không chỉ đảm bảo nhu cầu lương thực, thực phẩm cho con người mà còn tạo ra sản phẩm xuất khẩu, thu ngoại tệ cho quốc gia.
Theo đánh giá của Ngân hành thế giới, tổng sản lượng lương thực sản xuất ra chỉ đáp ứng nhu cầu cho khoảng 6 tỷ người trên thế giới, tuy nhiên có sự phân bổ không đồng đều giữa các vùng. Nông nghiệp sẽ phải gánh chịu sức ép từ nhu cầu lương thực thực phẩm ngày càng tăng của con người. Tại Việt Nam, theo số liệu của Tổng cục Thống kê (2013) (tiêu chí cũ không có đất lâm nghiệp) diện tích đất nông nghiệp và diện tích đất canh tác nông nghiệp 6 của Việt Nam có sự biến động lớn, năm 1990 diện tích đất nông nghiệp có 9.000ha; diện tích đất canh tác nông nghiệp là 8.500ha; bình quân đất canh tác là 1.223m2/người; đến năm 2012 diện tích đất nông nghiệp là 26.500ha; diện tích đất canh tác có 10.800ha; bình quân đất canh tác 1. Sử dụng đất nông nghiệp bền vững và tiêu chí đánh giá hiệu quả của các loại hình sử dụng đất ở trong và ngoài nước 1.
Khái niệm phát triển bền vững Hiện nay loài người đang đứng trước những thử thách to lớn về sự sống còn của con người do sự suy thoái môi trường và tình trạng cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, Muốn vượt qua những thách thức đó, không còn cách nào khác là phải xây dựng và thực hiện một chiến lược phát triển mới, mang tính dài hạn, là con đường phát triển tất yếu của các quốc gia, dân tộc trên thế giới. Chiến lược đó phải đảm bảo thực hiện được 3 mục tiêu cơ bản: Mục tiêu kinh tế; mục tiêu xã hội, nhân văn; mục tiêu sinh thái, môi trường. Thực hiện được yêu cầu đó sẽ là bước phát triển cao hơn về nhận thức của con người, là yếu tố đảm bảo cho sự phát triển bền vững mối quan hệ giữa con người - xã hội - tự nhiên. Phát triển bền vững vì thế trở thành vấn đề bức xúc của nhiều quốc gia, sự quan tâm của nhiều nhà khoa học hiện nay trên thế giới.
Hiện nay có rất nhiều định nghĩa hay khái niệm về phát triển bền vững. Thuật ngữ “Phát triển bền vững” xuất hiện đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản: “Sự phát triển của nhân loại không chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học”. Theo Uỷ ban Thế giới về Môi trường & Phát triển -WCED (1987): “Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ tương lai”. Khái niệm phát triển bền vững được chính thức đưa ra vào năm 1987 trong báo cáo của WCED.
Báo cáo này ghi rõ: “Phát triển bền vững là sự phát triển có thể đáp ứng được nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng 7 đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”. Bền vững là sự phát triển hôm nay không làm ảnh hưởng đến sự phát triển ngày mai. Bền vững là ngày hôm nay được hưởng lợi ích như thế nào thì thế hệ ngày mai cũng được hưởng lợi ích như vậy. Vậy phát triển bền vững không chỉ đơn thuần là tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội, mà bao gồm cả bảo vệ môi trường, các mặt này cần phải hài hòa, thúc đẩy kinh tế phát triển.
Đây là bước ngoặt của sự phát triển về nhận thức của con người trước những biến đổi của thực tiễn tự nhiên, phương thức sản xuất và đời sống kinh tế - xã hội cũng như trình độ phát triển trí tuệ của con người (Vũ Văn Nâm, 2009). Phát triển là quy luật chung của mọi thời đại, của tất cả các quốc gia. Tăng trưởng kinh tế và cải thiện mức sống xã hội là mục tiêu trọng tâm theo đuổi của tất cả các chính phủ. Tuy nhiên cùng với sự phát triển kinh tế nhanh chóng thì môi trường thiên nhiên của chúng ta cũng đang bị tàn phá nghiêm trọng.