ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay, sự mất cân bằng sinh thái diễn ra ngày càng theo chiều hƣớng gia tăng. Hệ lụy của sự mất cân bằng sinh thái đã làm cho hệ sinh thái bị rối loạn. Ngày nay con ngƣời đang phải đối mặt với các hiện tƣợng thời tiết cực đoan, ảnh hƣởng đến đời sống cũng nhƣ sản xuất. Trƣớc những thách thức về vấn đề môi trƣờng, trong những năm gần đây việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên đã trở thành chủ đề đƣợc Nhà nƣớc cũng nhƣ các tổ chức trong và ngoài nƣớc đặc biệt quan tâm.
Trên cơ sở đó đã lập ra nhiều khu bảo tồn, vƣờn quốc gia, Nhà nƣớc đã ban hành nhiều luật và chính sách trong công tác bảo tồn hệ động thực vật nhằm bảo vệ các loài động thực vật đảm bảo cân bằng sinh thái, tài nguyên đƣợc khai thác một cách bền vững, tiến hành nhiều biện pháp khác nhau nhằm đẩy mạnh công tác bảo vệ rừng. Tuy nhiên, đến nay việc ngăn chặn tình trạng phá rừng vẫn không giảm xuống, nhiều loài cây gỗ qúy bị khai thác cạn kiệt, một số loài đã bị tuyệt chủng, hiện tại nhiều loài khác đang đứng trƣớc nguy cơ rủi ro cao. Lâm trƣờng Hƣơng Sơn – tiền thân của Công tyTNHH1Tv Lâm nghịêp và Dịch vụ Hƣơng Sơn đã đƣợc thành lập năm 1955 với nhiệm vụ chính là khai thác gỗ đáp ứng kế hoạch nhà nƣớc giao. Tính đến nay, công ty đã cung cấp cho nền kinh tế quốc dân gần 2 triệu m3 gỗ.
Trải qua hơn 45 năm sản xuất và kinh doanh, vốn rừng của công ty đã phần nào bị suy giảm cả về diện tích, trữ lƣợng và chất lƣợng. Chỉ tính trong vòng 10 năm từ năm 1975 – 1985 diện tích các loại rừng nghèo và rừng trung bình tăng trên dƣới 10%, ngƣợc lại diện tích rừng giàu giảm gần 27%. Đối tƣợng chính cho rừng khai thác trƣớc năm 1976 là rừng giàu, thì đến năm 1990 đã khai thác cả rừng trung bình. Mặt khác, một số các loại cây gỗ lớn cho sản phẩm có giá trị kinh tế cao nhƣ: lim xanh, giổi, vàng tâm, de… đã giảm đi một cách bạo động.
Do vậy vấn đề bảo tồn và phỏt triển những loài cây cú giá trị này đang là một trong những nhiệm vụ cấp bách phải thực hiện LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 Vàng tâm (Manglieita dandyi Dandy), thuộc họ Ngọc lan (Magoliaceae), là cây gỗ nhỡ, thƣờng xanh, là cây gỗ quý, có mùi thơm, không bị mối mọt, dùng trong xây dựng nhà cửa, đóng đồ gia dụng, làm đồ mỹ nghệ, khắc, tiện, tạc tƣợng ….là một trong số những loài mang nhiều đặc điểm quan trọng cho khoa học và là loài cây tiềm năng có thể ứng dụng trong lâm nghiệp đô thị, trồng rừng hay có thể phát triển nghiên cứu và ứng dụng trong y học. Loài đƣợc Sách đỏ Việt Nam (2007) liệt vào mức Sắp nguy cấp - VU A1c,d do…. Tuy nhiên, từ khi phát hiện đến nay, ngoài việc mô tả và công bố mới cho khoa học thì loài Vàng tâm này chƣa đƣợc mở rộng điều tra về phân bố của loài, cũng chƣa có những nghiên cứu tiếp theo về các đặc điểm vật hậu, sinh thái, tái sinh loài. Từ thực tiễn nêu trên, tôi chọn đề tài: “ Nghiên cứu bảo tồn loài Vàng tâm (Manglietia dandyi) tại CTYTNHH1TV Lâm Nghiệp và Dịch vụ Hƣơng Sơn, tỉnh Hà Tĩnh” nhằm góp phần nâng cao hiểu biết, đề xuất những hƣớng bảo tồn và phát triển loài cây này.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN T I LI U 1. Nghiên cứu đặc điểm sinh học và sinh thái họcloàicây Việc nghiên cứu sinh học loài cây trong đó có các đặc điểm hình thái và vật hậu đã đƣợc thực hiện từ lâu trên thế giới. Đây là bƣớc đầu tiên, làm tiền đề cho các môn khoa học khác liên quan. Có rất nhiêu công trình liên quan đến hình thái và phân loại các loài cây.
Những nghiên cứu này đầu tiên tập trung vào mô tả và phân loại các loài, nhóm loài, .Có thể kể đến một vài công trình rất quen thuộc liên quan đến các nƣớc lân cận nhƣ: Thực vật chí Hong Kong (1861), Thực vật chí Australia (1866), Thực vật chí rừng Tây Bắc và trung tâm Ấn độ (1874), Thực vật chí Ấn độ 7 tập (1872 – 1897), Thực vật chí Miến Điện (1877), Thực vật chí Malaysia (1892 – 1925), Thực vật chí Hải Nam (1972 – 1977), Thực vật chí Vân Nam (1977), Thực vật chí Quảng Đông, Trung Quốc (9 tập). Sự ra đời của các bộ thực vật chí đã góp phần làm tiền đề cho công tác nghiên cứu về hình thái, phân loại cũng nhƣ đánh giá tính đa dạng của các vùng miền khácnhau. Việc nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của loài làm cơ sở đề xuất biện pháp kỹ thuật lâm sinh tác động phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả trong kinh doanh rừng rất đƣợc các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Theo đó, các lý thuyết về hệ sinh thái, cấu trúc, tái sinh rừng đƣợc vận dụng triệt để trong nghiên cứu đặc điểm của 1 loài cụ thể nàođó.
Ông đã phân chia ra sinh thái học cá thể và sinh thái học quần thể. Sinh thái học cá thể nghiên cứu từng cá thể sinh vật hoặc từng loài, trong đó chu kỳ sống, tập tính cũng nhƣ khả năng thích nghi với môi trƣờng đƣợc đặc biệt chú ý [22]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tái sinh là một quá trình sinh học mang đặc thù của hệ sinh thái rừng, đó là sự xuất hiện một thế hệ cây con của những loài cây gỗ ở những nơi còn hoàn cảnh rừng.
Hiệu quả của tái sinh rừng đƣợc xác định bởi mật thành loài, cấu trúc tuổi, chất lƣợng cây con, đặc điểm phân bố.N (1962) cho rằng, trong rừng nhiệt đới sự thiếu hụt ánh sáng đã làm ảnh hƣởng đến phát triển của cây con, còn đối với sự nảy mầm thì ảnh hƣởng đó thƣờng không rõ ràng. Đối với rừng nhiệt đới, số lƣợng loài cây trên một đơn vị diện tích và mật độ tái sinh thƣờng khá lớn.Vì nghiên cứu tái sinh tự nhiên cần phải đánh giá chính xác tình hình tái sinh rừng và có những biện pháp tác động phù hợp [1]. Cấu trúc rừng là hình thức biểu hiện bên ngoài của những mối quan hệ qua lại bên trong giữa thực vật rừng với nhau và giữa chúng với môi trƣờng sống. Nghiên cứu cấu trúc rừng để biết đƣợc những mối quan hệ sinh thái bên trong của quần xã, từ đó có cơ sở để đề xuất các biện pháp kỹ thuật tác động phù hợp.
Hiện tƣợng thành tầng là một trong những đặc trƣng cơ bản về cấu trúc hình thái của quần thể thực vật và là cơ sở để tạo nên cấu trúc Phƣơng pháp vẽ biểu đồ mặt cắt đứng của rừng do David và P.W Risa (1933- 1934) đề sƣớng và sử dụng lần đầu tiên ở Guyan, đến nay phƣơng pháp đó vẫn đƣợc sử dụng nhƣng nhƣợc điểm là chỉ minh hoạ đƣợc cách sắp xếp theo hƣớng thẳng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 đứng trong một diện tích có hạn. Cusen (1951) đã khắc phục bằng cách vẽ một số dải kề nhau và đƣa lại một hình tƣợng về không gian 3 chiều. Sampion Gripfit (1948) khi nghiên cứu rừng tự nhiên ở Ân Độ và rừng ẩm nhiệt đới ở Tây Phi, đã kiến nghị phân cấp cây rừng thành 5 cấp.W (1968) đã đi sâu nghiên cứu cấu trúc rừng mƣa nhiệt đới về mặt hình thái. Theo tác giả, đặc điểm nổi bật của rừng mƣa nhiệt tuyệt đại bộ phận thực vật đều thuộc thân gỗ và thƣờng có nhiều tầng.
Ông nhận định: “Rừng mưa thực sự là một quần lạc hoàn chỉnh và cầu kỳ nhất về mặt cấu tạo và cũngphongphú nhất về mặt loài cây” [16] Nhƣ vậy, nghiên cứu về tầng thứ theo chiều cao còn mang tính cơ giới, nên chƣa phản ánh đƣợc sự phân tầng phức tạp của rừng tự nhiên nhiệt đới. Việc nghiên cứu về cấu trúc rừng đã và đang đƣợc chuyển từ định tính sang định lƣợng với sự hỗ trợ của thống kê toán học Rollet B.L (1971) đã biểu diễn mối quan hệ giữa chiều cao và đƣờng kính bằng các hàm hồi quy, phân bố đƣờng kính ngang ngực, đƣờng kính tán bằng các dạng phân bố xác suất. Balley (1972) sử dụng hàm Weibull để mô hình hoá cấu trúc đƣờng kính thân cây loài Thông,. Tuy nhiên, việc sử dụng các hàm toán học không thể phản ánh hết đƣợc những mối quan hệ sinh thái giữa các cây rừng với nhau và giữa chúng với hoàn cảnh xung quanh, nên các phƣơng pháp nghiên cứu cấu trúc rừng theo hƣớng này không đƣợc vận dụng trong đề tài[ 2 1 ].
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Từ việc vận dụng các lý luận về sinh thái, tái sinh, cấu trúc rừng trên, nhiều nhà khoa học trên thế giới đã vận dụng vào nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái cho từng loài cây. Một vài công trình nghiên cứu có thể kể tới nhƣ: Trung tâm Nông lâm kết hợp thế giới (World Agroforestry Centre, 2006), Anon (1996), Keble và Sidiyasa (1994) đã nghiên cứu đặc điểm hình thái của loài Vối thuốc (Schima wallichii) và đã mô tả tƣơng đối chi tiết đặc điểm hình thái thân, lá, hoa, quả, hạt của loài cây này, góp phần cung cấp cơ sở cho việc gây trồng và nhân rộng loài Vối thuốc trong các dự án trồng rừng (dẫn theo Hoàng Văn Chúc, 2009).[8] Vối thuốc là loài cây tiên phong ƣa sáng, biên độ sinh thái rộng, phân bố rải rác ở các khu vực phía Đông Nam Châu Á. Vối thuốc xuất hiện ở nhiều vùng rừng thấp (phía Nam Thái Lan) và cả ở các vùng cao hơn (Nepal) cũng nhƣ tại các vùng có khí hậu lạnh. Là cây bản địa của Brunei, Trung Quốc, ấn Độ,Lào, Myanmar, Nepal, Papua New Guinea, Phillipines, Thailand và Việt Nam (World Agroforestry Centre, 2006).
Vối thuốc thƣờng mọc thành quần thụ từ nơi đất thấp đến núi cao, phân bố ở rừng thứ sinh, nơi đồng cỏ, cây bụi và ngay cả nơi ngập nƣớc có độ mặn nhẹ. Vối thuốc có thể mọc trên nhiều loại đất với thành phần cơ giới và độ phì khác nhau, từ đất cằn cỗi xƣơng xẩu khô cằn đến đất phì nhiêu, tƣơi tốt, có thể thấy Vối thuốc xuất hiện nơi đầm lầy. Vối thuốc là loài cây tiên phong sau nƣơng rẫy (Laos tree seed project, 2006) (dẫn theo Hoàng Văn Chúc, 2009). Theo Khamleck (2004), Họ Dẻ có phân bố khá rộng, với khoảng 900 loài chúng đƣợc tìm thấy ở vùng ôn đới Bắc bán cầu, cận nhiệt đới và nhiệt đới, song chƣa có tài liệu nào công bố chúng có ở vùng nhiệt đới Châu Phi.