Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI Phật giáo là tôn giáo có ảnh hưởng sâu rộng tới mọi mặt đời sống xã hội ở Việt Nam. Các nghiên cứu từ trước đến nay đều cho rằng Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ những năm trước hoặc đầu Công nguyên do các Tăng lữ từ Ấn Độ truyền sang. Sau này, từ thế kỷ thứ I đến thế kỷ thứ X, Phật giáo phát triển mạnh mẽ ở vùng văn minh sông Hồng, những trung tâm Phật giáo như Luy Lâu (nay thuộc tỉnh Bắc Ninh) được hình thành. Từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ XIV (tương đương với giai đoạn Lý-Trần), hình thành những trung tâm Phật giáo mới, đó là Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.
Thiền phái này đã có ảnh hưởng quan trọng trong đời sống tôn giáo, văn hóa, tín ngưỡng từ đó tới nay. Tư tưởng Phật giáo Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử phát triển trong thời kỳ quốc gia Đại Việt độc lập tự chủ và có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống văn hóa-xã hội Việt Nam. Vì thế, có thể nói rằng văn hóa tư tưởng Phật giáo Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đã đặt nền tảng cho sự phát triển văn hóa tư tưởng Phật giáo Việt Nam nói riêng và lịch sử văn hóa tư tưởng Việt Nam nói chung. Vương triều nhà Trần (1226-1400), trong khoảng thời gian 176 năm đã xây dựng Đại Việt trở thành một quốc gia hùng cường, phát triển mạnh mẽ với nhiều lĩnh vực: Quân sự, chính trị, xã hội, kinh tế, văn hóa, giáo dục,… Các vị hoàng đế đứng đầu triều đình đều rất quan tâm đến Phật giáo, nhất là vị vua thứ 3 của đời Trần- Hoàng đế Trần Nhân Tông 陳仁宗 (1258-1308), người từng được sử sách ca ngợi là một trong những vị vua anh minh bậc nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam.
Nhà vua cũng là người đã sáng lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, lấy pháp hiệu là Trúc Lâm Đầu Đà. Sự kiện vua Trần Nhân Tông vào núi Yên Tử tu hành, được sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi 7 nhận: “Kỷ Hợi năm Hưng Long thứ 7 (1299). Mùa thu, tháng 7, xây am Ngự Dược trên núi Yên Tử. Tháng 8, Thượng hoàng từ phủ Thiên Trường lại xuất gia vào núi Yên Tử tu khổ hạnh” [119, Q6, tờ 7a,b].
Từ đây, vua-nhà tu hành hội đủ các yếu tố “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” để thực hiện ý nguyện “xuất gia tu đạo và hành đạo”. Đó là thực hiện chí nguyện lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, trên cơ sở thống nhất các Thiền phái bấy giờ- điều mà trước đó ông nội của Điều Ngự Giác Hoàng là vua Trần Thái Tông đã tâm huyết, đặt nền móng. Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử phát triển trong thời kỳ quốc gia Đại Việt độc lập tự chủ và Phật giáo đã có ảnh hưởng lớn tới đời sống văn hóa xã hội đương thời. Bảo đỉnh hành trì là tác phẩm tiêu biểu cho tư tưởng Phật giáo thời Trần.
Các nhà nghiên cứu Phật học cho rằng lịch sử du nhập và truyền bá Phật giáo Việt Nam trải qua nhiều giai đoạn: giai đoạn từ thế kỷ thứ II đến thế kỷ thứ III, đánh dấu sự có mặt của Phật giáo được ghi nhận là một tôn giáo, mang đậm hơi thở của Thiền Tông và Tịnh Độ Tông. Thời gian tiếp theo cho đến thế kỷ thứ IX khẳng định sự có mặt của Phật giáo là một tôn giáo được dân chúng đón nhận rộng rãi với dấu ấn của hai thiền phái chính là Tỳ Ni Đa Lưu Chi và Vô Ngôn Thông. Giai đoạn thứ 3, đặc biệt quan trọng đối với Phật giáo Việt Nam bởi giai đoạn này tư tưởng của Phật giáo đã ăn sâu vào đời sống tinh thần của người dân. Phật giáo tại Việt Nam giai đoạn thứ 3 đã hòa quyện và gắn liền với phong tục, tín ngưỡng thờ cúng thần linh của người Việt, tạo nên nét riêng của Phật giáo Việt.
Điều này vô cùng quan trọng vì sau một thời gian gốc rễ của Phật giáo đã hòa hợp và gắn kết với tư tưởng, đời sống tinh thần dân tộc. “Giai đoạn ba, từ hậu bán thế kỷ thứ X đến thế kỷ thứ XIV, tức cuối thời Trần. Có thể nói, đây là thời kỳ Phật giáo được phát triển cực thịnh mà đỉnh cao là sự thống nhất các thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường… lập nên Thiền phái Trúc Lâm ở Yên Tử, do sự hết lòng ủng hộ của Trần Thái Tông và Tuệ Trung Thượng sĩ” [82]. Tuy 8 nhiên, để lại dấu ấn tiêu biểu của Phật giáo Việt Nam, mang hơi thở của tư tưởng dân tộc thì phải đến cuối đời Trần (thế kỷ XIV) mới thể hiện rõ nét.
Tác phẩm Bảo đỉnh hành trì từ lâu đã được giới nghiên cứu Phật giáo, nhất là trong giới tu hành Thiền phái Trúc Lâm coi là bộ sách tiêu biểu cho hoạt động thực hành tín ngưỡng và mang tính nhân văn sâu sắc nhưng văn bản đó hiện tại như thế nào, nội dung các khoa nghi là gì, con đường truyền bản ra sao,… đều chưa được nghiên cứu. Vì vậy, mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ những vấn đề về văn bản và các vấn đề: Giá trị nội dung văn bản, mối liên hệ qua lại giữa tín ngưỡng tôn giáo và thực hành tín ngưỡng, sức ảnh hưởng của nội dung văn bản tới đời sống xã hội hiện nay. Tác phẩm Bảo đỉnh hành trì bí chỉ toàn chương từ trước đến nay vẫn được coi là bí chỉ của Thiền phái Trúc Lâm và tác phẩm này cũng được coi là tác phẩm hướng dẫn thực hành nghi lễ tôn giáo tiêu biểu cho biểu hiện nhập thế của Phật giáo Trúc Lâm nên càng cần được nghiên cứu, làm rõ. Tác phẩm được ứng dụng phổ biến trong đời sống sinh hoạt tôn giáo này có sức sống trường tồn và còn nguyên giá trị cho đến tận ngày nay.
Lược khảo các công trình nghiên cứu về Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử 1. Tư liệu Hán Nôm về Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử Đạo Phật từ Ấn Độ truyền vào Việt Nam từ những năm đầu Công nguyên. Các vị Cao tăng ở Tây Thiên Trúc như Ma ha Kỳ vực, Khương Tăng Hội, Chi Cương Lương Sám, Mâu Bác, Khâu Đà La lần lượt đến xứ Giao Châu truyền đạo. Sách Thiền uyển tập anh 禪苑集英 ghi lại lời tâu của Thiền sư Đàm Thiên với Hoàng đế nhà Tùy có đoạn viết: “Xứ Giao Châu có đường thông với Thiên Trúc.
Khi Phật Pháp mới đến Giang Đông chưa khắp, thì ở Giao Châu đã có tới 20 ngôi bảo tháp, hóa độ được hơn 200 vị tăng, dịch được 15 bộ kinh Phật rồi” [89, tr. 9 Kinh Phật là sách ghi lại những giáo lý mà đức Phật Thích Ca từng diễn thuyết. Tùy thời thuyết giáo, đức Phật đã giảng 12 bộ kinh. Điều này trong các câu đối tán thán công đức của đức Phật mà chúng ta thường gặp trong các ngôi chùa cổ của Việt Nam: Khải giáo lợi quần mê, thập nhị bộ kinh quy chưởng ác; Thị thân vi chân tể, tam thiên sát độ tổng quyền hành Nghĩa là: Mở giáo pháp làm lợi cho kẻ muội mê, mười hai bộ kinh trong tay nắm chắc, Lấy thân mình làm kẻ chăn dân đích thực, ba ngàn cõi đất tự biết điều hành.
Giáo lý của nhà Phật chỉ gói gọn trong 12 bộ kinh, đời sau các tổ lại có luận bàn để có được con số nhiều hơn. Kinh Phật mà các vị Cao tăng ở Tây Trúc đưa sang viết bằng tiếng Phạn, khi đến Giao Châu phải dịch ra tiếng Hán. Hoàng đế nhà Tùy nói đến ở đây là Tùy Văn đế (589 - 605), chứng cứ này cho thấy đến thế kỷ thứ 7 xứ Giao Châu ta đã bị nội thuộc vào các triều Tây Hán, Đông Hán, Ngụy, Tấn, Tống, Tề, Lương, Trần của phương Bắc dài đến hơn 700 năm rồi. Do vậy lời sư Đàm Thiên nói, lúc này ở đất Giao Châu đã dịch được 15 bộ kinh từ tiếng Phạn sang tiếng Hán, đồng nghĩa là để nắm được giáo lý trong kinh Phật, người dân Giao Châu đã đọc bản kinh bằng chữ Hán.
Đến đời Lý - Trần, chữ Hán được sử dụng rộng rãi trong đời sống xã hội. Các văn kiện chính thức của triều đình như chiếu chỉ, sắc lệnh đều viết bằng chữ Hán. Đặc biệt, triều đình còn tổ chức các kỳ thi Nho học hoàn thiện từ thi Hương ở các địa phương cho đến thi Hội, thi Đình ở Kinh đô Thăng Long, do vậy số người thông thạo văn bản chữ Hán ngày càng nhiều. Các vị tăng ni ở nhà chùa có khả năng đọc hiểu kinh Phật bằng chữ Hán cũng ngày càng tăng thêm.
Nhà Tống đã gửi tặng nhà nước Đại Việt bộ kinh bằng chữ Hán. Đồng thời, triều đình Đại Việt cũng nhiều lần cử sứ giả đi thỉnh kinh. Việc thỉnh kinh này còn kéo dài đến đời Lê Trung Hưng (1533-1786). Sách 10 Đạo giáo nguyên lưu 道教源留 [146] do Hòa thượng Phúc Điền biên soạn ghi nhận, năm Vĩnh Hựu thứ 2 (1736) đời Lê Ý Tông, vị sư Tổ thứ hai chùa Liên Tông là Hòa thượng Tính Tuyền vâng chiếu lệnh của triều đình sang đỉnh Hồ Sơn ở Quảng Châu nước Thanh tu học và thỉnh kinh.
Khi về nước Sư tổ đã sưu tầm được 300 bộ sách đưa về cất giữ tại chùa Càn An ở Hà Thành. Sau đó Sư tổ còn lựa chọn các sách có giá trị đem khắc in để phổ biến rộng rãi, như: Từ bi thủy sám khai pháp 慈悲水懺開法, khắc in năm 1739; Từ bi Tam muội thủy sám kinh văn 慈悲三昧水懺經文, khắc in năm 1739; Dược sư Lưu Li Quang Như Lai bản nguyện 藥師琉璃光如來本願, khắc in năm 1739; Diệu pháp Liên Hoa kinh 妙法連花經, khắc in năm 1739; Tứ phần luật đại cương 四分律大剛, khắc in năm 1746. Hiện số ván khắc in kinh Phật này còn lưu giữ tại Tổ đình Liên Phái, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. Việc này giúp cho việc hoằng dương đạo pháp có được bước tiến xa hơn, rộng khắp hơn.
Một tác phẩm được cho rằng khắc in sớm từ cuối đời nhà Trần đề cập đến các vị xuất gia tu hành của Thiền phái, đó là Thánh đăng lục 聖燈錄. Văn bản in thời Trần hiện chưa tìm thấy nhưng ở bản in đời Lê cho biết nội dung đề cập đến 5 vị vua đời Trần xuất gia tu hành, ngộ đạo và hoằng hóa đạo Phật là: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông và Trần Minh Tông. Tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm còn lưu một bản ký hiệu A.2569, mang tên “Việt Quốc Yên Tử sơn Trúc Lâm chư tổ thánh đăng ngữ lục 越國安子山竹林諸祖聖燈語錄” do Sa môn Tính Quảng Thích Điều 11 Điều thuật 沙門性廣釋條條術, in năm 1730 và được trùng san vào năm Cảnh Hưng thứ 11 (1750).