Đặt vấn đề Cá rô phi là một trong những loài thủy sản được nuôi phô biến nhất ở nước ta, với đặc tính dé nuôi, hàm lượng dinh dưỡng cao và hiện dang được mở rộng với mô hình ngày cảng đa dạng hơn. Không chỉ riêng Việt Nam, rất nhiều nước trên thế giới cũng ưa chuộng và có điều kiện thích hợp dé nuôi loại cá này bởi nó là mặt hàng thực phẩm có giá trị kinh tế và là loài có sức đề kháng cao hơn so với loài khác. Tuy nhiên, những năm gần đây nghề nuôi cá rô phi đang gặp phải nhiều khó khăn và thách thức do mật độ mô hình nuôi thâm canh mọc day làm phát sinh nhiều loại bệnh dịch. Bệnh ở cá rô phi gồm: bệnh do vi khuẩn, vi rút, nam và ký sinh trùng.
Đặc biệt là bệnh do vi khuẩn Streptococcus spp. Trong vòng 7 ngày, nhóm vi khuẩn này có thé gây ra tỷ lệ chết lên đến 70% trên cá rô phi (Wongsathein, 2012). Năm 1997, Shoemaker và Klesius cho biết ước tính thiệt hai hằng năm khoảng 150 triệu USD. Tại Việt Nam, tần suất xuất hiện vi khuẩn Streptococcus agalactiae trên cá rô phi nuôi tại An Giang va Vĩnh Long rất cao, biểu hiện của bệnh là gây ra phù mắt, xuất huyết khi cá nuôi đạt khối lượng từ lớn hơn 100 g đến 1 kg/con, tỉ lệ cảm nhiễm vi khuẩn này trên cá rô phi từ 95 — 100% và gây ra thiệt hại trầm trọng về kinh tế cho người nuôi (Đinh Thị Thủy, 2007; Hậu và ctv 2022).
Việc thiếu kiến thức, hiểu biết về phương pháp xử lí, phòng và chống dịch bệnh của người nuôi khi sử dụng kháng sinh để trị bệnh trên cá đã dẫn đến nhiều hậu quả như tạo ra các dòng vi khuẩn kháng thuốc (Smith và ctv 1994), nguyên nhân gây tồn dư kháng sinh trong sản phẩm thủy sản ảnh hưởng đến sức khỏe của người tiêu dùng và môi trường (Depaola và ctv 1995). Việc sử dụng vi khuẩn có khả năng khang với vi khuẩn gây bệnh ở thủy sản ngày cảng được quan tam (Dung va ctv, 2008; Dhanasekaran va ctv, 2010; Abimbola và ctv, 2011). Phương pháp xử lý sinh học bằng vi sinh vật có lợi (probiotic) cũng được mong đợi trở thành công cụ phòng ngừa, điều trị nhiều bệnh hiệu quả trong nuôi trồng thủy sản (Gatesoupe, 1999; Irianto và Austin, 2002; Vine và ctv, 2006). Đề khắc phục phan nào thiệt hại do dịch bệnh gây ra đối với cá rô phi Oreochromis spp.
nuôi thâm canh, nghiên cứu này được thực hiện với mong muốn xác định được vi khuẩn tiềm năng có ứng dụng làm chế phẩm sinh học phòng bệnh hiệu quả trên cá rô phi phục vụ cho dé tài: “Chọn lọc chủng Bacillus spp. triển vọng dùng sản xuất chế phẩm probiotic phòng bệnh phù mắt, xuất huyết trên cá rô phi (Oreochromis sp. Mục tiêu đề tài Chọn lọc chủng Bacillus spp. triển vọng từ bộ sưu tập giống chủng vi sinh có kha năng đối khang Streptococcus agalactiae gây bệnh phù mắt, xuất huyết trên cá rô phi (Oreochromis sp.) hướng đến sản xuất chế phẩm sinh học probiotic phòng bệnh hiệu quả.
Nội dung thực hiện Nội dung 1: Chọn lọc chủng Bacillus spp. có tính đối kháng tốt với vi khuẩn Streptococcus agalactiae gây bệnh phù mắt, xuất huyết trên cá rô phi. Nội dung 2: Khảo sát điều kiện môi trường (pH, NaCl) ảnh hưởng đến hoạt tính của các chủng Bacillus spp. chọn lọc đối kháng với vi khuẩn Streptococcus agalactiae.
Nội dung 3: Đánh giá khả năng đối khang in vitro khi đồng nuôi cấy chủng Bacillus spp. chọn lọc với chủng vi khuan Streptococcus agalactiae trong điều kiện môi trường lỏng. TỎNG QUAN TÀI LIỆU 2. Một số đặc điểm sinh học của cá rô phi 2.
Nguồn gốc cá rô phi Cá rô phi có nguồn gốc từ Châu Phi, cá được nuôi đầu tiên ở Kenya và sau đó nuôi rộng rãi nhiều nước ở Châu Phi và trên thế giới. Cá được nuôi nhiều nhất là ở những nước nhiệt đới và cận nhiệt đới. Rô phi den (Oreochromis mossambicus) là loài cá rô phi đầu tiên được nhập vào nước ta năm 1951, loài cá này chậm lớn và đẻ dày, hiện nay không được quan tâm. Rô phi van (O.
niloticus) được nhập từ Đài Loan năm 1973, sau đó cá rô phi được cải thiện chất lượng di truyền (đòng GIFT) đã được giới thiệu vào Việt Nam từ Thái Lan năm 1994, được phát triển rộng rãi. Rô phi hồng còn được gọi là cá điêu hồng, màu sắc rực rỡ như màu cá vàng, nhập từ Malaysia vào nước ta năm 1975, cũng là loài cá thuần, có sức lớn nhanh, thịt ngon, rất được ưa chuộng, hiện đang là đối tượng nuôi xuất khẩu. Phan loại cá rô phi Ca rô phi thuộc lớp Ostechthyes; Lớp phụ: Actynoterigii Bộ: Perciformes; Bộ phụ: Perciidae Họ: Cichlidae Giống: Tilapia, Sarotherodon, Oreochromis Loài: Tilapia sp, Sarotherodon sp, Oreochromis sp Hiện nay có 2 loài chính phô biến tại Việt Nam là: Cá rô phi van (Rô phi Dai Loan, Oreochromis niloticus) được nhập vào Việt Nam năm 1973 từ Đài Loan. Cá rô phi do (Oreochromis sp.) còn được gọi là cá điêu hồng, có màu hồng được nhận vào Việt Nam năm 1985 từ Malaysia.
Cá rô phi đỏ (Oreochromis sp. Đặc điểm môi trường sống và tập tính dinh dưỡng Rô phi là loài cá có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới, nên khả năng thích nghỉ với nhiệt độ cao tốt hơn nhiệt độ thấp. Nhiệt độ thích hợp cho cá sinh trưởng, phát triển là 28 — 30°C. Là loài cá có nguồn gốc từ nước ngọt, nhưng chúng có khả năng sông và phát triển trong môi trường nước lg, mặn có nồng độ muối tới 35%o.
Kha năng thích ứng độ mặn của mỗi loài khác nhau. Cá rô phi có thể sống trong môi trường nước có hàm lượng oxy hòa tan thấp tới 1 mg/L nhưng không thể kéo dài khi hàm lượng oxy dưới 0,7 mg/L (Balarin va Haller, 1982). Khả năng chịu Anomiac tới 2,4 mg/L. Cá rô phi có khả năng sông trong môi trường nước có biên độ pH rộng từ 5 — 11, nhưng thích hợp nhất là 6,5 — 8,5.
Theo Philipart và Ruwet (1982), rô phi chết ở khoảng dao động của pH = 3,5 hay pH > 12 sau 2 đến 3 giờ. Rô phi là loài cá ăn tạp, khi còn nhỏ cá ăn sinh vật phù du thủy sinh là chủ yếu, 20 ngày tuổi (17 — 18 mm) cá chuyên dần sang thức ăn như cá trưởng thành. Cá trưởng thành ăn mùn bã hữu cơ, tảo các loại, ấu trùng, côn trùng, sinh vật đáy, phù du sinh vật, thực vật thượng đẳng loại mềm, phân hữu cơ. Ngoài ra, trong ao nuôi có thé cho thêm thức ăn bổ sung như cám gạo, bột ngô và các loại phụ phẩm nông nghiệp khác.
Nghiên cứu của Balarin và Haller (1982) cho thấy, cá rô phi có thể sử dụng rất hiệu quả thức ăn công nghiệp và thức ăn tự chế biến. Đây là một đặc điểm giúp cho việc nuôi cá rô phi thâm canh đạt năng suất cao. Với những đặc điểm ưu việt đó cá rô phi được phân bồ và nuôi khá rộng rãi trong các vùng miền của nước ta. Tình hình nghiên cứu dịch bệnh ở cá rô phi 2.
Tình hình nghiên cứu dịch bệnh ở cá rô phi trên thế giới Thế giới có khoảng 70 loài cá rô phi khác nhau (Gupta và Acosta, 2004). Nghề nuôi cá rô phi ngày càng mở rộng, tuy nhiên cùng với sự phát triển của các hình thức nuôi mới với mật độ cao như nuôi công nghiệp và nuôi thâm canh thì cá rô phi cũng dễ bị nhiễm một số tác nhân gây bệnh như vi rút, vi khuẩn, ký sinh trùng và nam (Shoemaker, 2008). Điều quan trọng cần lưu ý rằng nhiễm liên cầu khuẩn đã trở thành một vấn đề lớn trong nuôi cá rô phi và gây thiệt hại kinh tế nặng nề. Streptococcus iniae va Streptococcus agalactiae là những loài vi khuẩn chính ảnh hưởng đến việc sản xuất cá rô phi trên thế giới (Evan va ctv, 2006).
Bệnh do liên cầu khuẩn (Streptococcosis) gây ra hiện tượng xuất huyết, lồi mắt, tỷ lệ chết cao, gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế, ảnh hưởng đến sản lượng cá rô phi trên toàn thế giới (Shoemaker và ctv 1997). Ở Trung Quốc, dịch bệnh do S. agalactiae đã xảy ra ở nhiều vùng nuôi cá rô phi, gây chết 50 — 70% vào năm 2009 (Ye va ctv, 2011), thiệt hai 40 triệu USD tương ứng tỷ lệ chết trên 80% vào năm 2011 (Zhang và ctv, 2017). Dịch bệnh cá rô phi nuôi ở Thái Lan đã được quan sát thấy trong lồng nuôi trên sông Mekong tại thành phố Mukudahan phía đông Bắc Thái Lan vào tháng 5 năm 2001.
Tỷ lệ cá bị chết do dịch bệnh là chướng bụng, trong xoang bụng chứa dịch và hậu môn bị sưng. Trong 2002 và 2003, tại thành phố Lubuk Linggau, miền Nam Sumatra, Indonesia cá rô phi nuôi lồng cũng xuất hiện hiện tượng cá bị chết với các dấu hiệu bệnh lý hai mắt đục và đổi màu. Vi khuẩn phân lập từ bộ não và các cơ quan khác của cá rô phi bị ảnh hưởng từ Thái Lan và Indonesia đã được xác định là Streptococcus agalactiae va Streptococcus iniae (Yuasa, 2005). Năm 2005 tại một số hồ chứa của Malaysia đã ghi nhận được hiện tượng cá rô phi nuôi lồng bị chết, kết quả thu mẫu đã phân lập được vi khuẩn từ các bộ phận, tập trung chủ yếu ở mắt, thận và não.
Trong đó vi khuẩn S. agalactiae chiêm 70% tổng số loài vi khuẩn Streptococcus đã được xác định, 30% còn lại là Leuconostoc spp. Dau hiệu điển hình quan sát bao gồm cá bơi lội không bình thường và bỏ ăn. Hầu như tất cả các cá rô phi bị bệnh mat như duc giác mac hoặc tối màu, mắt bị lồi hoặc xep (Yuasa, 2005).
Streptococcus agalactiae ngày càng được phát hiện và khang định là nguyên nhân gay bệnh cho cá, đặc biệt là cá nước ngọt. Những năm gần đây rất nhiều dot dịch bệnh do nhiễm Streptococcus agalactiae đã được ghi nhận ở nhiều trang trại nuôi cá rô phi đặc biệt là cá trang trại ở châu Á (Musa và ctv, 2009; Suanyuk và ctv, 2005). Từ tháng 7 đến tháng 12 năm 2009 bệnh Streptococcosis trên cá rô phi đã bùng phát tại bốn tinh Guangdong, Guangxi, Hainan và Fujian nơi chiếm tới 90% sản lượng nuôi đối tượng này tai Trung Quốc. Tại Thái Lan, theo Wongtavatchai va Maisak (2008) tỷ lệ Streptococcus agalactiae trên Streptococcus iniae là 112/8 ở cá rô phi van (Oreochromis nilotica), nghiên cứu về dịch té học của Intervet/Scheing — Plough Animal Health cho kết qua Streptococcus agalactiae chiêm 82% va Streptococcus iniae 18% trong tông số 500 mau phân lập từ 13 nước châu A và châu Mỹ La Tinh trong 8 năm (Sheehan va ctv, 2009).
Trên cá rô phi đỏ (Oreochromis spp.