CHƯƠNG 1. TÓM LƯỢC MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Phương pháp dạy học lấy người học làm trung tâm Phương pháp dạy học lấy người học làm trung tâm (learner-centered approach) đã được nghiên cứu áp dụng trong giảng dạy và đã được chứng minh có nhiều ưu điểm hơn so với cách giảng dạy truyền thống (trong đó giáo viên là trung tâm của việc dạy học) (Little, 1991; Littlewood 1999). Dạy học tích cực (lấy người học làm trung tâm) không chỉ giúp học sinh tiếp thu kiến thức và lưu trữ kiến thức nhanh hơn, mà còn giúp học sinh phát triển các kỹ năng cần thiết khác như kỹ năng làm việc theo nhóm, kỹ năng phản xạ nhanh, kỹ năng thuyết trình hay kỹ năng đàm phán.
Dạy học theo đường hướng lấy người học làm trung tâm bao gồm rất nhiều các hoạt động, thủ thuật và công cụ hỗ trợ cho việc học. Trò chơi (game) là một trong những công cụ hỗ trợ tích cực cho phương pháp giảng dạy và học tập này, và đặc biệt hữu ích trong việc giảng dạy và học tập ngoại ngữ. Trò chơi trong giảng dạy ngoại ngữ 1. Định nghĩa trò chơi trong trong giảng dạy ngoại ngữ Định nghĩa trò chơi: Theo Hadfield (1987) trò chơi là một hoạt động có quy tắc, mục đích và yếu tố giải trí.
Tương tự, Toth (1995) khẳng định một trò chơi là một hoạt động có quy luật chơi, mục đích và yếu tố thú vị. Gibb (1978) định nghĩa trò chơi là một hoạt động được thực hiện bằng việc kết hợp hay cạnh tranh với nhau để đạt được mục đích với các quy tắc cụ thể. Tuy định nghĩa có thể khác nhau, họ đều đồng ý rằng trò chơi có 3 đặc điểm sau: có mục đích, có quy tắc chơi và có sự thi đấu giữa các đối thủ hay giữa đối thủ với mục tiêu đặt ra. Tuy nhiên, cần phân biệt giữa trò chơi (game) và trò giải trí (play).
Một vài người có thể nhầm lẫn bởi hai định nghĩa trò chơi (game) và trò giải trí (play). Trên thực tế, chúng không nhắc đến cùng một đối tượng nhưng trò chơi (game) thì bao gồm “play” có quy luật chơi, và “play” đơn thuần chỉ để giải trí còn trò chơi (game) thì có các mục đích khác. Tóm lại, trò chơi (game) là hoạt động có mục đích, quy luật và sự cạnh tranh giữa hai hay nhiều người chơi. Hơn nữa, trò chơi (game) cũng mang lại sự thú vị.
14 Định nghĩa trò chơi trong giảng dạy ngoại ngữ: Trò chơi sử dụng trong giảng dạy ngoại ngữ là các trò chơi có sử dụng ngôn ngữ đích. Nếu trò chơi nói chung mà giúp phát triển những khía cạnh khác nhau của trí thông minh, sự kiên nhẫn thì trò chơi dùng để phát triển các kỹ năng và khía cạnh của ngôn ngữ. Khi chơi trò chơi, học sinh không chỉ cảm thấy thích thú mà còn có thể luyện tập tiếng Anh. Do đó, trò chơi vừa thú vị vừa hữu ích và được coi là công cụ hiệu quả trong việc dạy và học ngôn ngữ nói chung cũng như tiếng Anh nói riêng.
Như vậy trò chơi dùng trong giảng dạy không chỉ phục vụ mục đích giải trí, vui chơi thông thường nên nó được gọi là “game” chứ không phải là “play”. Greenal (1984) định nghĩa nó là một hoạt động dùng để ôn lại ngôn ngữ đã được dạy hay đã học và dùng trong giai đoạn cuối của bài học hay trong những trường hợp như là ở câu lạc bộ Tiếng Anh. Thông thường, trò chơi thường được dùng cho các hoạt động khởi động (warm-up) đầu giờ, hoạt động thêm khi còn thừa thời gian dạy (fill-in), hay như là một gia vị thêm vào chương trình giảng dạy thêm đa dạng. Thực tế, không có giai đoạn cụ thể nào dành cho trò chơi trong quá trình dạy và học ngôn ngữ.
Trò chơi có nhiều vai trò trong chương trình giảng dạy ngôn ngữ. Mc Callum (1980) khẳng định trò chơi có thể được dùng trong bất cứ tình huống giảng dạy ngôn ngữ nào và với bất cứ kỹ năng nào, đọc, viết, nghe hay nói. Lợi ích của việc sử dụng trò chơi trong giảng dạy ngoại ngữ Có rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra tính đa dụng của các trò chơi trong việc giảng dạy ngoại ngữ, những tác động lớn nhất có thể liệt kê như sau: Một là, trò chơi có thể cải thiện sự ghi nhớ của học sinh. Theo Uberman (1998), trò chơi từ vựng có thể giúp học sinh nhớ nhanh hơn và tốt hơn trong không khí học thoải mái.
Nó kích thích học sinh bằng không khí thư giãn và sự thú vị trong lớp học, giảm sự lo lắng, giúp họ cảm thấy dễ chịu và học được nhiều hơn. Uberman (1998) chỉ ra rằng những học sinh được luyện tập từ vựng với trò chơi cảm thấy có động lực hơn và hứng thú với những gì họ đang học và trò chơi có thể cung cấp cho học sinh nhút nhát nhiều cơ hội để thể hiện quan điểm và cảm giác hơn. Các nghiên cứu trước đều chỉ ra học sinh khi được học theo thủ thuật này có kết quả bài thi cao hơn so với những nhóm học sinh không được sử dụng 15 phương pháp này trong việc học ngoại ngữ. Nó không chỉ giúp các học sinh nhớ từ vựng sâu hơn mà còn biết cách vận dụng nó tốt hơn trong bối cảnh phù hợp.
Theo Nation và Newton (1997, tr. 244), đây là cơ hội cho người học tiếp xúc với các chủ đề học mới khi thực hiện hành động, điều này giúp cho việc sản sinh ngôn ngữ nguồn tốt hơn. Hai là trò chơi là một dạng bài luyện tập hay cho học sinh. Lee (1995) đồng ý rằng trò chơi cho phép học sinh luyện tập các chủ điểm ngôn ngữ đang được dạy.
Cùng quan điểm như vậy, Wright và những tác giả khác (1996, tr 1-4) chứng minh rằng trò chơi cũng giúp giáo viên tạo môi trường có ích và có ý nghĩa cho việc thực hành ngôn ngữ và trò chơi có thể dùng để luyện tập tất cả các kỹ năng, trong tất cả các giai đoạn của việc dạy hay quá tŕnh học và cho nhiều loại giao tiếp khác nhau. Cùng quan điểm đó, Zdybiewska (1994, tr.6) cũng cho rằng trò chơi là một phương pháp luyện tập ngôn ngữ hay, vì chúng cung cấp những tình huống mô phỏng cuộc sống thực tế. Trò chơi là môi trường hiệu quả và thuận tiện để cung cấp sự luyện tập ngôn ngữ chuyên sâu và có ý nghĩa. Chúng cần được coi là trung tâm của các thủ thuật và công cụ dạy của giáo viên.5) cho rằng trong nhiều trường hợp, chúng cung cấp rất nhiều hoạt động tập trung dùng như các bài luyện tập truyền thống (traditional drill) và quan trọng hơn nữa, chúng cung cấp tình huống giao tiếp sát với thực tế, và nó tạo thành cầu nối giữa lớp học và thế giới thực tế.
Chúng có vai trò là công cụ ghi nhớ và là các hoạt động luyện tập và là cơ hội để sử dụng ngôn ngữ một cách tự do, như là phương tiện để đạt được mục đích học ngôn ngữ chứ không phải là mục đích chính là để chơi. Ba là, trò chơi khuyến khích người học tương tác và giao tiếp. Zimmerman (1997) nhấn mạnh rằng các hoạt động mang tính tương tác và giao tiếp có thể dẫn đến việc học từ tốt hơn. Trên thực tế, khi tham gia vào trò chơi, người học phải nói để diễn đạt, thể hiện hay trao đổi ý kiến với bạn học.
Hơn nữa, qua giao tiếp với người khác, họ có thể giúp nhau khi gặp từ mới (Nation và Newton, 1997, tr. Richard Amato (1998) có quan điểm là trò chơi thì thú vị nhưng không nên coi nhẹ giá trị giáo dục của nó đặc biệt là trong việc giảng dạy ngôn ngữ. Có nhiều lợi ích của việc sử dụng trò chơi như làm giảm sự lo lắng, do đó làm sự tiếp nhận thông tin vào dễ dàng hơn, chúng mang tính khích lệ và thú vị và giúp người học nhút nhát có thêm cơ hội bày tỏ quan điểm và cảm giác cũng như những thế 16 mạnh tiềm ẩn. Học tập qua trò chơi có thể kích thích sự kết hợp của các yếu tố tâm lý và trí tuệ mà có thể kích thích giao tiếp, nâng cao sự tự tin, động lực và phản xạ nhanh, hỗ trợ việc học và nâng cao khả năng phát âm và sự tự tin Bốn là, việc áp dụng trò chơi tác động tích cực đến động lực học: Tầm quan trọng của động lực (motivation) trong việc giảng dạy và học tập ngoại ngữ đã được bàn luận đến từ lâu.
Động lực là một yếu tố quyết định đến sự chuẩn bị sẵn sằng của học sinh khi giao tiếp. Động lực là sự kết hợp giữa nỗ lực và mong muốn đạt được mục đích học tập ngôn ngữ với thái độ tích cực với việc học ngôn ngữ. Động lực liên quan đến mức độ mà một cá nhân làm việc hay cố gắng học ngôn ngữ vì mong muốn làm vậy và sự thỏa mãn khi thực hiện hoạt động này. Do đó, những người có động lực thường tham gia tích cực trong lớp và đạt được kết quả cao.
Động lực mang yếu tố cá nhân nên không dễ dàng trong việc hình thành và phát triển nó. Việc sử dụng trò chơi, được coi là hỗ trợ cho quá trình học, trong lớp học nói là một lựa chọn tốt để tạo động lực vì trò chơi thêm vào sự thú vị cho những gì mà học sinh cảm thấy không thú vị. Học ngôn ngữ rất vất vả, yêu cầu phải nỗ lực mội lúc và phải duy trì nó trong thời gian dài. Trò chơi giúp và khuyến khích học nhiều học sinh duy trì đam mê và học tập.
Duy trì đam mê tức là duy trì nỗ lực. Chúng có thể tạo cho lớp học không khí thoải mái vì nó hữu ích trong việc nâng cao động lực học (Lightbrown và Spada, 1999). Lewis (1999) chỉ ra rằng trò chơi mang tính kích thích cao vì chúng rất thú vị. Nó khích lệ người học duy trì đam mê và việc học.Trò chơi cũng giúp giáo viên tạo bối cảnh mà ngôn ngữ được sử dụng có ý nghĩa.
Sự đa dạng của trò chơi có thể làm giảm sự lo lắng (anxiety) và khuyến khích học sinh nhút nhát tham gia nói, đặc biệt là khi trò chơi được chơi trong nhóm. Chúng có thể giảm sự căng thẳng khi học vì học sinh tập trung vào việc cố gắng trở thành người thắng cuộc (Avedon & Brian, 1971). Như vậy, trò chơi lấy người học làm trung tâm vì học sinh chủ động trong việc chơi trò chơi và trò chơi có thể được tổ chức để học sinh có vai trò lãnh dạo và giáo viên là người khích lệ.