Đặt vấn đề Hoa là sản phẩm đặc biệt của cây trồng, nói đến hoa là nói đến vẻ đẹp của thiên nhiên đƣợc cây cỏ chắt lọc ban tặng cho con ngƣời. Trong cuộc sống của con ngƣời, hoa tƣợng trƣng cho cái đẹp, là nguồn cảm giác ngọt ngào của cuộc sống. Chúng là một sản phẩm thiết yếu trong các dịp lễ tết, hội nghị… Vì vậy, hoa không chỉ đem lại cho con ngƣời sự thoải mái, thƣ giãn khi thƣởng thức vẻ đẹp của chúng mà còn đem lại cho ngƣời trồng hoa giá trị kinh tế cao hơn hẳn so với những cây trồng khác. Ở Việt Nam, nghề trồng hoa đã có từ lâu đời và có ý nghĩa lớn trong nền kinh tế của các vùng trồng hoa, do đó hình thành nhiều vùng trồng hoa quy mô lớn, nhiều kinh nghiệm nhƣ: Đà Lạt (Lâm Đồng), Mê Linh (Vĩnh Phúc), Tây Tựu, Vĩnh Tuy (Hà Nội), Đằng Hải (Hải Phòng), Sapa (Lào Cai)… Rất nhiều hộ gia đình trồng hoa có thu nhập từ 10 - 15 triệu đồng/ 1 sào Bắc Bộ/ năm (Đặng Văn Đông, Đinh Thế Lộc, 2004)[6].
Khí hậu nƣớc ta thuận lợi cho sinh trƣởng, phát triển của nhiều loài hoa khác nhau và hoa lily cũng vậy. Hoa lily cắt cành là một loại hoa đẹp, hiện đang là một trong 6 loại hoa cắt phổ biến và có giá trị nhất (Hồng, Cúc, Phăng, Lay ơn, Đồng tiền, Lily). Tuy lily là loại hoa mới phát triển gần đây ở nƣớc ta nhƣng do có dáng đẹp, mùi thơm quý phái, màu sắc hấp dẫn, quanh năm có hoa nên lily là loại hoa đƣợc rất nhiều ngƣời ƣa chuộng. Mà hiện nay ở nƣớc ta hoa lily mới đƣợc trồng ở một số tỉnh, thành phố có nghề trồng hoa phát triển nhƣ Đà Lạt, Tp.
Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng,… với tỷ lệ nhỏ cả về diện tích và số lƣợng. Thái Nguyên có khí hậu mát mẻ, phù hợp cho sự sinh trƣởng, phát triển của hoa lily. Hơn nữa, trên địa bàn thành phố tập trung nhiều cơ quan, xí 2 nghiệp, trƣờng học và có hệ thống giao thông thuận lợi, dân cƣ đông đúc, đời sống không ngừng nâng cao. Do đó mà nhu cầu về hoa cũng ngày càng lớn.
Nhƣng trong thực tế sản xuất và tiêu thụ hoa tại Thái Nguyên vẫn gặp phải những khó khăn nhƣ: Về màu sắc, chủng loại hoa còn đơn điệu, sản xuất hoa còn nhỏ lẻ, trình độ khoa học kỹ thuật còn hạn chế, đầu tƣ ban đầu chƣa cao, các phƣơng pháp bảo quản hoa chƣa đƣợc áp dụng rộng rãi… Hoa lily chủ yếu đƣợc trồng để đáp ứng thị trƣờng hoa vào dịp tết Nguyên Đán còn các thời vụ khác thì không đƣợc trồng do vậy phải nhập hoa rất nhiều, nên chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu của ngƣời tiêu dùng, giá thành cao. Do vậy, để đáp ứng yêu cầu thực tiễn sản xuất nhằm tìm ra thời vụ thích hợp để nâng cao năng suất, chất lƣợng hoa lily, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ đến sinh trưởng, phát triển của hoa lily Yelloween trong vụ Xuân Hè 2014 tại Thái Nguyên”. Mục đích của đề tài Xác định đƣợc thời vụ thích hợp nhất đối với hoa lily Yelloween trong vụ Xuân Hè tại Thái Nguyên. Yêu cầu của đề tài - Đánh giá ảnh hƣởng của thời vụ đến khả năng sinh trƣởng, phát triển, của giống hoa lily Yelloween trong vụ Xuân Hè tại Thái Nguyên.
- Đánh giá ảnh hƣởng của thời vụ đến một số chỉ tiêu về năng suất, chất lƣợng hoa lily Yelloween. - Đánh giá tình hình sâu bệnh, hại ở các thời vụ khác nhau. - Đánh giá hiệu quả kinh tế qua các thời vụ khác nhau. Ý nghĩa của đề tài Ý nghĩa trong công tác học tập và nghiên cứu khoa học: giúp sinh viên có đƣợc những kiến thức, kinh nghiệm thực tế trong quá trình trồng và chăm sóc hoa, từ đó góp phần củng cố lý thuyết đã học, biết cách thực hiện một đề tài khoa học.
Ý nghĩa thực tiễn: xác định thời vụ thích hợp nhất đối với hoa lily Yelloween trong vụ Xuân Hè 2014 tại Thái Nguyên hoa có năng suất, chất lƣợng tốt để đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho ngƣời trồng. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Cơ sở của việc nghiên cứu thời vụ Ở mỗi thời vụ có điều kiện ngoại cảnh khác nhau, ảnh hƣởng đến sinh trƣởng phát triển của cây.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, đời sống con ngƣời ngày càng đƣợc nâng cao thì xu hƣớng thƣởng thức hoa tƣơi, hoa đẹp ngày càng nhiều. Hoa lily là một trong những loại hoa cắt cành đang đƣợc ƣa chuộng tại Việt Nam. Hơn nữa hoa lily là loại hoa cao cấp, hoa thƣờng nở tập trung, giá trị kinh tế cao. Ở những ngày thƣờng, nhu cầu hoa lily ngày càng tăng, khả năng tiêu thụ hoa khá tốt, giá bán ổn định, nhất là trong những dịp lễ tết nhƣ: 8/3, 20/11, Rằm, Tết Nguyên đán… Nhu cầu về hoa lily là rất lớn, dễ tiêu thụ trên thị trƣờng, giá bán cao.
Ở miền Bắc hoa lily thƣờng đƣợc trồng chủ yếu ở vụ Đông Xuân (vụ hoa tết). Còn lại các vụ khác do điều kiện khí hậu không phù hợp nên rất ít đƣợc trồng. Nghiên cứu thời vụ trồng hoa lily ở nƣớc ta chƣa nhiều, vậy nên việc nghiên cứu thời vụ không những giúp ta xác định đƣợc thời gian trồng hợp lý mà còn xác định đƣợc thời vụ trồng có hiệu quả kinh tế cao. Nguồn gốc - Phân loại * Nguồn gốc Trung Quốc là nƣớc trồng hoa lily sớm nhất.
Theo tài liệu cổ “Thần nông bản thảo” thì củ lily có tác dụng thanh phế, nhuận táo, tƣ âm, thanh nhiệt. Vì vậy, từ lâu củ lily ngoài tác dụng làm giống còn đƣợc dùng để ăn, làm thuốc chữa bệnh… Những nghiên cứu cho rằng việc trồng lily để lấy củ ăn, bắt đầu từ đời nhà Đƣờng (Trung Quốc), nhƣng trƣớc đó cũng có những 4 bài thơ ca ngợi vẻ đẹp của lily. Vì vậy, chẳng những ngƣời ta thích ăn củ mà còn thích thƣởng thức vẻ đẹp của hoa lily. Các nhà thơ nổi tiếng đời Đƣờng, đời Tống đều có thơ ca ngợi hoa lily.
Đến giữa thế kỷ XIII, ít nhất có 3 loại Lily đƣợc ghi chép lại. Loại thứ nhất là lily hoa trắng, dùng làm thuốc chữa bệnh đƣợc gọi là loại Hoang Dƣợc. Loại thứ hai là Quyển Đan (L. Loại thứ ba là Sơn Đan (L.
Cuối thế kỷ XVI, các nhà thực vật học Anh đã phát hiện và đặt tên cho các giống lily. Đầu thế kỷ XVII Lily đƣợc di thực từ Châu Âu đến Châu Mỹ. Sang thế kỷ 18 các giống lily của Trung Quốc đƣợc di thực sang Châu Âu do vẻ đẹp và mùi thơm hấp dẫn nên cây lily đã nhanh chóng phát triển và đƣợc coi là cây hoa quan trọng của Châu Âu, Châu Mỹ (Đặng Văn Đông, Đinh Thế Lộc, 2004)[6]. * Phân loại Lily (Limo Spp) là tên gọi chung cho tất cả các cây thuộc loài Lilium, họ Lilyaceae, bộ phụ của thực vật một lá mầm.
Đặc trƣng của loài này là thân ngầm dƣới đất có rất nhiều vảy bao bọc lại nên ngƣời ta còn gọi đó là loại hoa bách hợp. Trên thế giới có trên 300 giống khác nhau, chủ yếu phân bố ở vùng ôn đới và hàn đới - Bắc bán cầu, một số ít ở vùng núi cao nhiệt đới. Trung Quốc là nƣớc có nhiều chủng loại lily nhất và cũng là trung tâm, nguồn gốc lily trên thế giới. Theo kết quả điều tra, ở Trung Quốc có khoảng 460 giống, 280 biến chủng (chiếm 1/2 tổng số giống hoa lily trên thế giới), trong đó có 136 giống, 52 biến chủng do Trung Quốc tạo ra.
Nhật Bản có 145 giống, trong đó có 19 giống là đặc trƣng của Nhật. Hàn Quốc có 110 giống, trong đó có 30 giống mang đặc trƣng của nƣớc này. Hà Lan có khoảng 320 giống, trong đó 80% là các giống do chính Hà Lan tạo ra…(Đặng Văn Đông, Đinh Thế Lộc, 2004)[6]. Đặc điểm thực vật học Lily là cây thân thảo lâu năm.
Phần dƣới mặt đất gồm thân vảy, rễ. phần trên mặt đất gồm lá, thân, mầm hạt (một số không có mầm hạt). * Củ non và mầm hạt Đại bộ phận lily có nhiều củ con ở gần thân rễ, chu vi mỗi củ từ 0,5 - 3 cm, số lƣợng củ con tùy thuộc giống và điều kiện trồng trọt. Một số giống nhƣ Quyển Đan và các giống tạp giao, ở nách lá có mầm hạt hình cầu hoặc hình trứng, khi chín có màu tím, tối, chu vi mầm hạt từ 0,5 - 1,5 cm.
* Rễ Rễ lily gồm 2 phần: Rễ thân và rễ gốc. Rễ thân còn gọi là rễ trên, do phần thân mọc dƣới đất sinh ra, có nhiệm vụ nâng đỡ thân, hút nƣớc và dinh dƣỡng, tuổi thọ của rễ này là một năm. Rễ gốc còn gọi là rễ dƣới, sinh ra từ gốc thân vảy, có nhiều nhánh, sinh trƣởng khỏe, là cơ quan chủ yếu hút nƣớc và dinh dƣỡng của lily, tuổi thọ của rễ này tới 2 năm… * Thân vảy Thân vảy là phần phình to của thân tạo thành. Trên đĩa thân vảy có vài chục vảy hợp lại, vảy hình cầu dẹt, hình trứng dài, hình elip… Chất đất, kỹ thuật trồng và tuổi của thân vảy ảnh hƣởng rất lớn đến hình thái thân.
Thân vảy không có vỏ bao bọc. Màu sắc thân vảy thay đổi tùy theo loài và các giống khác nhau: màu trắng, màu vàng, màu đỏ cam, màu đỏ tím… Kích thƣớc của thân vảy cũng tùy thuộc vào các loài, giống khác nhau. Loại nhỏ chu vi 6cm, nặng 7 - 8 gam, loại to chu vi 24 -25 cm, nặng trên 350 gam. Mầm vảy to ở ngoài, nhỏ ở trong, là nơi dự trữ nƣớc và dinh dƣỡng của thân vảy, trong đó nƣớc chiếm 70%, chất bột 23%, một lƣợng nhỏ Protein, chất khoáng, chất béo.
* Lá Lá lily mọc rải rác thành vòng thƣa, hình kim, xòe hoặc hình thuôn, hình giải, đầu lá hơi nhọn, không có cuống hoặc cuống ngắn. Lá to hay nhỏ 6 tùy thuộc vào giống, điều kiện trồng trọt và thời gian xử lý. Trên lá có từ 1 - 7 gân, gân giữa rõ ràng hơn, lá mềm có màu xanh bóng. * Hoa Hoa lily mọc đơn lẻ, hoặc xếp đặt trên trục hoa, bao hoa hình lá, nhỏ.
Hoa chúc xuống, vƣơn ngang hoặc hƣớng lên. Hình dáng hoa là căn cứ chủ yếu để phân loại lily. Ví dụ: loại hình loa kèn, 1/3 phía trƣớc cong ngƣợc lên; loại hình phễu 1/3 phía trƣớc cong ngƣợc ra; loại hình cái cốc, phía trƣớc hơi cong; loại hình cầu cánh hoa 6 cái, 2 vòng nối nhau do 3 vòng đài và 3 cánh tạo thành, màu sắc nhƣ nhau nhƣng đài hoa hẹp hơn, cánh đều có hình elip, gốc có tuyến mật.