Chương 1 TONG QUAN TÀI LIEU 1.1 Tinh hình sản xuất cây rau trên thé giới va trong nước 1.1 Tình hình sản xuất cây rau trên thế giới Hiện nay, trên thế giới có nhiều rau được gieo trồng đa dạng về chủng loại, diện tích gieo trồng ngày càng được gia tăng dé đáp ứng nhu cầu tiêu thụ rau của người dân. Từ năm 2016 — 2021 diện tích trồng rau tăng từ 56.348 ha lên tới 58.368 ha theo thống kê của FAO. Như vậy, chúng ta thay sản lượng rau trên thé giới tăng lên rất nhanh, điêu đó chứng tỏ nhu câu rau của con người ngày càng tăng. Trong những năm qua nhu cầu nhập khẩu rau bình quân trên thế giới tăng 1,8% mỗi năm.
Các nước và vùng lãnh thổ có nhu cầu nhập khẩu rau cao đó là Pháp, Đức, Canada khoảng 155.000 tan mỗi năm; Anh, Mỹ, Bị, Hồng Công, Singapo khoảng 120. Một số nước có lượng rau xuất khâu lớn trên thế giới đó là: Trung Quốc (609.000 tân/năm); Italia, Hà Lan mỗi nước xuất khẩu khoảng 140. Như vậy rau tươi là một trong những mặt hàng nông nghiệp xuất khẩu có giá trị hơn nữa nhu cầu rau trên thế giới ngày một tăng, bởi vậy rau có vị trí lớn trên thị trường thé giới (www.2 Tinh hình sản xuất cây rau trong nước Tính đến năm 2021, tổng diện tích trồng rau các loại trên cả nước đạt 1.974 ha, sản lượng 17,22 triệu tan; so với năm 2016 diện tích tăng 47,66 nghìn ha (tốc độ tăng bình quân 0.,83%/năm), sản lượng tăng 2,03 triệu tan (tốc độ tăng bình quân 2,23%/năm). Vùng sản xuất rau lớn nhất là Đồng bằng Sông Hồng (chiếm 24,9% diện tích và 29,6% sản lượng rau cả nước), vùng Đồng bằng sông Cửu Long (chiếm 25,9% diện tích và 28,3% sản lượng rau cả nước).
Nhiều vùng rau an toàn đã được hình thành đem lại thu nhập cao và an toàn cho người sử dụng đang được nhiều địa phương chú trọng đầu tư xây dựng mới và mở rộng: Hà Nội, Hải Phòng (An Lão), TP. Hồ Chí Minh, Lâm Đồng (Đà Lat). Theo đánh giá của Viện Nghiên cứu rau quả, trong những năm gần đây những loại rau được xác định có khả năng phát triển dé cung cấp sản phẩm cho xuất khẩu là ca chua, dua chuột, đậu rau, ngô rau phát triển mạnh cả về quy mô và sản lượng, trong đó sản phẩm hàng hoá chiếm tỷ trọng cao (www. Những thuận lợi và khó khăn của nghề trồng rau tại Việt Nam Thuận lợi Khí hậu nhiệt đới phù hợp cho nhiều loại rau sinh trưởng và phát triển.
Có nguồn lao động đồi dào, giá nhân công thấp. Nhiéu vùng có tập quán trong rau lâu đời, có thê trông các loại rau có nguôn gôc ôn đới quanh năm. Có nhiêu kinh nghiệm trong việc trông và đê giông các loại rau. Thị trường tiêu thụ lớn, người dân có tập quán tiêu dùng rau.
Trong những năm, qua nhờ cơ chế thị trường đã có nhiều công ty liên doanh với nước ngoai, 100% vốn nước ngoài vào Việt Nam buôn bán đã tạo ra một thị trường giống mới làm phong phú thêm chủng loại giống rau. Những tiến bộ kỹ thuật trong nước và thế giới đã được áp dụng nhanh chóng vào sản xuất rau. Vì vậy, các vùng trồng rau ở ngoại thành của các thành phố lớn đã từng bước cung cấp rau quanh năm cho người tiêu ding (Phạm Hữu Nguyên, 2008). Khó khăn Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa tạo điều kiện cho sâu bệnh phát sinh nhiều.
Do vậy, người dân dùng thuốc bảo vệ thực vật rất nhiều, vô tội vạ. Chính điều đó đã gây nên hiện tượng quen thuốc, càng làm cho sâu bệnh phát triển mạnh hơn, chỉ phí sản xuất cao nhưng hiệu quả phòng trừ sâu bệnh thấp, đồng thời đã làm cho lượng thuốc tồn dư trong sản phâm nhiều dẫn đến chất lượng rau không an toàn, ảnh hưởng lớn đên việc xuât khâu rau của nước ta. Ngoài ra, ở một sô vùng, điêu kiện khí hậu khắc nghiệt cũng đã tạo nên thời kỳ giáp vụ rau trong năm, chủng loại rau nghèo nàn, sô lượng và chât lượng đêu giảm so với chính vụ. Sản xuât rau ở nước ta phụ thuộc nhiêu vào điêu kiện tự nhiên, nên rủi ro trong sản xuất lớn.
Nguôn dat, nước trồng rau ở một số nơi bi ô nhiễm. Vấn dé an toàn thực phâm là vân đê rât nan giải trong sản xuât rau hiện nay. Quy trình sản xuất rau an toàn đã được ban hành song viéc tô chức san xuất và kiểm tra, giám sát thự hiện quy trình chưa tốt, kết hợp với trình độ dân trí và tính tự giác thấp của người sản xuất, người bán đã cho ra các sản phẩm không an toàn, giảm sức cạnh tranh của sản phẩm rau, gây mat lòng tin đối với người tiêu dùng. Ngoài ra, do chưa có chế độ, chính sách hỗ trợ giá cả hợp lý, cũng như việc thiết lập mạng lưới tiêu thụ cho vùng chuyên canh đề khuyến khích người dân trồng rau an toàn.
Giống rau: Thiếu bộ giống tốt cho từng vùng sinh thái, nhiều loại giỗng phải nhập nội, giống bị thoái hóa, phẩm chất kém. Việc sử dụng giống ưu thế còn hạn chế (Phạm Hữu Nguyên, 2008).2 Giới thiệu tổng quan về phân bón hữu cơ 1.1 Phan bón hữu cơ Theo bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2019. Phân bón hữu cơ là phân bón có thành phần chỉ là chất hữu cơ tự nhiên và có chỉ tiêu chất lượng chính đáp ứng quy định (cụ thể là có hàm lượng chất hữu cơ tổng số không thấp hơn 20%). Hiện nay, phân bón hữu cơ sản xuất trong nước bao gồm hai nhóm: Phân bón hữu cơ truyền thống và phân bón hữu cơ công nghiệp.
Phân bón hữu cơ truyền thống là loại phân bón có nguồn gốc từ chất thải của động vật hoặc phế phụ phẩm trồng trọt, chăn nuôi, chế biến nông lâm thủy sản, phân xanh, rác thải hữu cơ, các loại than bùn được chế biến theo phương pháp ủ truyền thống. Trong nhóm này có thé chia thành 5 nhóm nhỏ gồm phân chuông, phân rác, than bùn, phân xanh và phân hữu cơ khác. Phân bón hữu cơ công nghiệp là loại phân bón được chế biến từ các nguồn hữu cơ khác nhau đề tạo thành phân bón tốt hơn so với nguyên liệu thô ban đầu. Hiện nay, phân bón hữu cơ công nghiệp chia thành các loại phân hữu cơ, phân hữu cơ khoáng, phân hữu cơ sinh học và phân hữu cơ vi sinh.2 Sự ảnh hưởng của phan hữu cơ trong ngành nông nghiệp Trong nên nông nghiệp lâu đời của các nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam và các nước Châu Á, phân hữu cơ không chỉ cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng với hàm lượng dinh dưỡng vốn có của nó mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện các đặc tính lý hóa của đất thông qua vai trò của vật chất hữu cơ.
Mặc du hiện nay phân hóa học được coi là yếu tố quan trọng đề tăng năng suất cây trồng nên xu hướng sử dụng phân bón hóa học ngày càng tăng, nhưng phân hữu cơ nói chung và phân hữu cơ vi sinh nói riêng đóng vai trò rất quan trọng trong sản xuất nông nghiệp bền vững và bảo vệ môi trường.3 Phân hữu cơ ảnh hưởng đến giá trị kinh tế cây trồng Phân hữu cơ là loại phân bón được sản xuất từ các nguyên liệu hữu cơ khác nhau có chứa một hay nhiều chủng loại vi sinh vật sống được tuyên chọn với mật độ đạt tiêu chuẩn nhằm cung cấp chất dinh dưỡng, nâng cao năng suất chất lượng nông sản đồng thời cải tạo đất, góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường, tạo ra nền nông nghiệp bền vững. Góp phan nâng cao giá trị của thực phẩm khi sử dụng phân hữu cơ về mặt kinh tế lẫn phẩm chất. Khuyến cáo sử dụng lượng phân hữu cơ vi sinh Sông Gianh với lượng 2.000 kg/ha thay thé cho 12 tan phân chuồng/ha sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho thấy được sự hiệu quả về kinh tế đến sản xuất khi sử dụng phân hữu cơ vi sinh thay vì phân chuồng (Phạm Thị Lệ Thủy và Đoàn Thị Quỳnh Trâm, 2009). Khi sử dụng phân hữu cơ biochar đảm bảo hiệu quả hơn công thức đối chứng khi sử dụng phân bón hóa học cả về chiều cao cây, số lá/cây, kích thước lá, khối lượng tươi và cả về phẩm chất như hàm lượng vitamin C, hàm lượng đường tan nhưng với hàm lượng nitrat thì khi sử dụng công thức sử dụng phân hóa học thì cao hơn nhiều so với sử dụng phân hữu cơ biochar, với hàm lượng nitrat quá cao làm ảnh hưởng đến phẩm chất của nông sản khi sử dụng phân bón hóa học (Trần Thị Mai Lan, 2019).
Cây trồng hữu cơ chứa ít nitrat, nitrit và dư lượng thuốc trừ sâu hơn so với cây trồng thông thường. Không có sự khác biệt rõ ràng trong hàm lượng kim loại nặng giữa cây trồng hữu cơ và cây trồng thông thường. Các sản phẩm thực vật hữu cơ chứa, như một quy luật, nhiều chất khô, vitamin C, hợp chat phenolic, acid amin thiết yếu và tổng số đường. Các sản phẩm thực vật hữu cơ chứa nhiều sắt, magie và phốt pho.
Chúng cũng có xu hướng chứa nhiều hơn crom, iot, molypden, selen, canxi, boron, mangan, đồng, kali, natri, vanadi và kẽm. Các sản phẩm thực vật hữu cơ thường có chất lượng cảm quan tốt hơn. Chúng có mùi và vị rõ ràng hơn và ngọt hơn và nhiều hơn vì hàm lượng chất khô cao hơn. Rau và trái cây được trồng hữu cơ duy trì chất lượng tốt hơn trong kho đông, cho thấy tốn thất hàng loạt thấp hơn do dé thoát hơi nước, phân rã và quá trình phân hủy.
Một lý do có thể giải thích cho điều này là hàm lượng chất khô cao hơn của chúng, khoáng chất, đường và các hợp chất hoạt tính sinh học khác (Ewa Rembialkowska, 2007). Phân tích này tìm thấy nhiều sắt, magie, phốt pho, va vitamin C và ít nitrat trong cây trồng hữu cơ so với cây trồng thông thường. Ngoài ra, đã có bảy xu hướng cho thấy it protein hơn nhưng chất lượng tốt hơn, nhiều khoáng chất dinh duGng hơn và lượng kim loại nặng thấp hơn trong cây trồng hữu cơ so với cây trồng thông thường (Virginia Worthington, 2004).4 Phân bón hữu cơ tại Việt Nam Người Việt Nam đã sử dụng phân chuồng từ xa xưa cùng với nền văn minh lúa nước. Dấu ấn người Việt Nam biết sử dụng phân hữu cơ dé bón ruộng được Lê Quý Đôn viết trong cuốn Văn Đài Loại Ngữ (1773) ghi lại từ sách Tê Dâm Yếu Thuật: “Phép làm ruộng tốt thì trước hãy nên trồng đậu.
Đậu xanh tốt hơn, thứ đến đậu nhỏ và vừng ( hồ ma). Các thứ ay đều trồng trong tháng 5 tháng 6.