Đặt vấn đề Cà pháo xanh còn có tên là Solanum macrocarpon, là cây nhiệt đới lâu năm thuộc họ Cà, thƣờng đƣợc trồng lấy quả làm rau ăn. Cà có chứa nhiều chất dinh dƣỡng nhƣ: protein, chất béo, chất xơ, canxi, kẽm, vitamin, và các chất khoáng khác. Cà pháo xanh thƣờng đƣợc trồng phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới và Việt Nam. Ở nƣớc ta, cà pháo đã gắn bó với nhân dân rất lâu đời không chỉ vì Việt Nam là nƣớc nông nghiệp có đến 70% dân số làm nghề nông, mà còn do cà pháo là một loại cây dễ trồng, cho thu hoạch một khoảng thời gian dài mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Theo Đông y, cà pháo là một vị thuốc chữa bệnh hiệu quả, có vị ngọt tính hàn, có tác dụng nhuận tràng, lợi tiểu, ôn bệnh trong bốn mùa. Cà pháo có khả năng phòng và chữa một số bệnh nhƣ: phụ nữ huyết hƣ, da vàng, chữa ho lâu năm không khỏi, chữa bệnh ngoài da…Cà pháo cũng là món ăn quen thuộc của nhân dân ta từ trƣớc đến nay nhƣ: cà pháo muối chua, cà muối xổi, mắm cà pháo, cà pháo trộn tôm… Cà pháo nhƣ làm nêm thêm hƣơng vị đậm đà của bản sắc quê hƣơng (Kỹ sƣ Hồ, 2013). Phân bón là thức ăn do con ngƣời bổ sung cho cây trồng. Trong phân bón hóa học chứa nhiều chất dinh dƣỡng cần thiết cho cây, các chất dinh dƣỡng chính trong phân là: đạm (N), lân (P) và kali (K).
Ngoài ra còn có các nhóm nguyên tố trung và vi lƣợng… Tuy nhiên, phân bón hóa học cũng gây tác động xấu đến môi trƣờng, gây ô nhiễm do lƣợng dƣ thừa các chất dinh dƣỡng vì cây trồng chƣa sử dụng đƣợc, do bón không đúng cách hoặc do nông dân hiện nay bón phân chƣa đúng qui trình và thƣờng lạm dụng phân bón hóa học. Theo các nghiên cứu gần đây, nếu trong nƣớc và thực phẩm hàm lƣợng nitơ và photpho, đặc biệt là nitơ dƣới dạng muối nitrit và nitrat cao quá sẽ gây ra một số bệnh nguy hiểm cho ngƣời đặc biệt là trẻ em. Lê Thị Hiền Thảo (2003) đã xác định, trong những thập niên gần đây, mức NO3- trong nƣớc uống tăng lên đáng kể mà nguyên nhân là do sự sử dụng phân đạm vô cơ tăng, gây rò rỉ NO 3- xuống 1 nƣớc ngầm. Hàm lƣợng NO3- trong nƣớc uống tăng gây ra nguy cơ về sức khoẻ đối với cộng đồng (Trƣơng Hợp Tác, 2009).
Phân hữu cơ đƣợc hình thành từ phân ngƣời, phân động vật, lá và cành cây, than bùn, hay các chất hữu cơ khác thải loại từ nhà bếp. Phân hữu cơ giúp tăng thêm độ màu mỡ, độ tơi xốp cho đất bằng cách cung cấp thêm các chất hữu cơ, chất mùn và bổ dƣỡng. Phân bón hữu cơ đƣợc chia làm 2 nhóm chính: Phân hữu cơ truyền thống (Phân chuồng, phân xanh, phân rác,…), phân hữu cơ công nghiệp (phân bón hữu cơ sinh học, phân hữu cơ vi sinh,, phân bón vi sinh…). Phân hữu cơ truyền thống có các chất dinh dƣỡng khoáng đa lƣợng, trung và vi lƣợng cung cấp cho cây trồng, tăng độ phì nhiêu, tơi xốp và ổn định kết cấu đất, giúp cải tạo đất đai hạn chế xói mòn… Phân hữu cơ công nghiêp là sản phẩm phân bón đƣợc phối trộn thêm các nguyên tố khoáng vô cơ gồm N, P, K.
Có chứa ít trên 15% thành phần là các chất hữu cơ, từ 8-18% tổng số các chất vô cơ, có hàm lƣợng các chất dinh dƣỡng khoáng cao. Phân bón hữu cơ vi sinh là sản phẩm phân bón chế biến theo quy trình công nghiệp, giúp cung cấp đủ các yếu tố dinh dƣỡng khoáng đa, trung, vi lƣợng cho cây trồng, cải tạo độ phì nhiêu, tơi xốp của đất (Tuyên Huấn, 2011). Các loại phân hữu cơ trên thị trƣờng hiện nay rất phong phú, đa dạng về thành phần. Nghiên cứu trên cây chùm ngây cho thấy sử dụng phân hữu cơ Japan và phân hữu cơ Growmore cho hiệu quả tốt đạt năng suất và chất lƣợng cũng nhƣ bảo vệ môi trƣờng (Mai Hải Châu, 2017).
Nếu nhƣ trƣớc kia, cà pháo chỉ là cây trồng để phục vụ nhu cầu tự cung, tự cấp của nhân dân thì ngày nay nó đã trở thành loại cây hàng hóa đem lại nguồn kinh tế không nhỏ cho nhiều vùng trồng rau nhƣ Hải Dƣơng, Bắc Ninh, Lâm Đồng, Vỉnh Phúc, Sóc Trăng… Vốn đầu tƣ ít, thu lại lợi nhuận liên tục, giá bán ra từ 12.000 đồng cho 1kg, có thời điểm lên đến 17.000 đồng 1kg cà pháo. Sản phẩm thu hoạch đến đâu thƣơng lái thu mua đến đó với giá cả ổn định, các vùng trồng cà đƣợc mở rộng với các giống cà ngon. Tuy 2 nhiên, nghiên cứu loại phân hữu cơ nào phù hợp cho sự sinh trƣởng, phát triển, năng suất cũng nhƣ chất lƣợng của cà pháo xanh còn hạn chế. Vì vậy, để có thể xác định đƣợc loại phân hữu cơ thích hợp nhất cho sinh trƣởng và phát triển cây cà pháo xanh chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hƣởng của loại phân và thời gian bón phân hữu cơ đến sự sinh trƣởng, phát triển và năng suất cà pháo xanh vụ Xuân” 1.
Mục đích và yêu cầu 1. Mục đích Lựa chọn loại phân hữu cơ và thời điểm bón phù hợp cho sự sinh trƣởng, phát triển và năng suất của cây cà pháo xanh trồng tại Gia Lâm, Hà Nội.2 Yêu cầu - Đánh giá ảnh hƣởng của loại phân và thời gian bón phân hữu cơ đến sự sinh trƣởng của cây cà pháo xanh. - Đánh giá ảnh hƣởng của loại phân và thời gian bón phân hữu cơ đến phát triển cây cà pháo xanh. - Đánh giá ảnh hƣởng của loại phân và thời gian bón phân hữu cơ đến năng suất cây cà pháo xanh.
- Đánh giá ảnh hƣởng của loại phân và thời gian bón phân hữu cơ đến tình hình sâu bệnh hại trên cây cà pháo xanh. 3 PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Giới thiệu chung về cây cà pháo xanh 2. Nguồn gốc Theo Bukenya và Bonsu, 2004 thì cà pháo có nguồn gốc từ châu Phi, các giống hoang dại đƣợc tìm thấy ở Tây Phi và các vùng lân cận, trong đó có khoảng 20 loài đƣợc công bố.
Cà pháo đƣợc trồng khá phổ biến các nƣớc Đông Nam Á, Đông Á và trong đời sống có nhiều tên gọi khác nhau: “garden egg”, “aubegine” (tiếng Anh), “Eierfrucht” (tiếng Đức), “kayan” (tiếng Myanma), “talong” (tiếng Philippines)… Ngoài ra nó còn đƣợc trồng ở những vùng nhiệt đới của châu Phi nhƣng cũng có tài liệu khác cho rằng đó chỉ là một loài cà khác (Bukenya, 2004). Tại Việt Nam cà pháo đƣợc trồng phổ biến trên nhiều vùng miền, cà pháo có thể trồng làm hai vụ: vụ sớm gieo hạt vào tháng 7-8, thu hoạch vào tháng 11- 12, vụ chính gieo hạt vào tháng 11-12, thu hoạch quả vào tháng 3-5. Một số vùng trồng cà pháo ngon có tiếng ở nƣớc ta nhƣ huyện Nghi Lộc (Nghệ An), Láng (Hà Nội), Cái Sắn (huyện Tân Hiệp, Kiên Giang). Ở khu vực Tây Nguyên và phía Nam thì cà pháo là cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao trong những năm gần đây của tỉnh Đăk Lăk, Tây Ninh, … (Mai Phƣơng, 2016).
Trong 100g cà pháo cung cấp 1,5g protein (có đủ các acid amin cần thiết cho cơ thể), 12mg canxi, 0,7mg sắt, 18mg magie, 16mg phospho, 22,1mg kali, 0,3mg kẽm. Ngoài ra có còn chứa cả đồng và selen là các vi khoáng quý. Nhiều loại vitamin nhƣ tiền vitamin A, vitamin C (3mg/100g), vitamin B1, B2, PP cũng có trong cà pháo (Hoàng Duy Tân, 2018). 1 Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng so với các loại cà khác Chỉ tiêu so sánh Cà pháo Cà bát Cà tím Thành phần Nƣớc 93,0 87,9 67,9 hóa học (%) Protein 1,0 1,1 0,9 Chất béo 0,2 0,3 0,2 Chất xơ 0,8 1,4 1,4 Dẫn xuất không protein 4,5 8,7 9,1 Khoáng toàn phần 0,5 0,6 0,5 Giá trị dinh Năng lƣợng trao đổi 24,4 44,1 45,4 dƣỡng trong Đơn vị thức ăn 0,1 0,1 0,2 1kg thức ăn Protein tiêu hóa 6,0 6,0 5,0 Canxi (g) 1,1 0,2 0,2 Phốtpho (g) 0,2 0,1 0,1 (FAO, 2019) Các thực phẩm họ cà giàu dinh dƣỡng và chứa nhiều vi chất có lợi trong việc ngăn ngừa và kiểm soát nhiều căn bệnh.
Theo bảng trên ta thấy nƣớc trong cà pháo có nhiều hơn 2 loại cà khác là cà bát và tím, nƣớc chiếm đến 93% trong quả cà pháo còn lại là các protein, chất béo, chất xơ, dẫn xuẩ không protein và khoáng toàn phần. Giá trị dinh dƣỡng trong 1kg thức ăn cho thấy, protein tiêu hóa trong cà pháo và cà bát là 6,0 lớn hơn cà tím là 5,0. Canxi và phốt pho của cà pháo lớn hơn 2 loại cà còn lại, có canxi và phốt pho lần lƣợt là 1,1g và 0,2g. Cà pháo có tính hàn, vị ngọt, từ xƣa vẫn là món ăn truyền thống trong mỗi mâm cơm gia đình Việt nam.
Không những ngon miệng mà còn trở thành những vị thuốc giúp nhuận tràng, lợi tiểu, trị thũng thấp độc… (FAO, 2019). Vị trí và phân loại Cà pháo có tên khoa học là Solanum macrocarpon L, tên tiếng Anh là Gboma Eggplant. Chi Cà (Solanum) đƣợc thành lập bởi Carl Linnaeus năm 1753. Về phân loại thực vật học của cây này hiện chƣa có sự thống nhất cao trong các tài liệu nhƣng hầu hết đƣợc xếp nó là một biến chủng của loài cà tím (S.
melongena), một số lại xếp nó thành một loài riêng. Theo hệ thống APG III (10/2009) dự trên cơ sở Di truyền học phân tử thi Chi cà hiện nay bao gồm nhiều chi độc lập trƣớc đây với khoảng 1.000 loài cây thân gổ, thân thảo và dây leo phân bố ở trên khắp lục địa thuộc vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới và ôn đới (Kỹ sƣ Hồ, 2013). Cây Cà pháo (Solanum macrocarpon L.) là một loại cây nhiệt đới lâu năm có liên quan chặt chẽ với cây Cà tím có nguồn gốc từ Tây Phi, nhƣng hiện nay đƣợc phân bố rộng rãi ở Trung và Đông Phi. Thông qua giới thiệu từ Tây Phi, cây Cà pháo cũng phát triển trong trong vùng biển Caribbean, Nam Mỹ, và một số bộ phận của khu vực Đông Nam Á, Đông Á.
Cây Cà pháo đƣợc trồng để sử dụng nó nhƣ một loại thực phẩm, cây làm thuốc và cây cảnh. Ở Việt Nam cây Cà pháo đƣợc du nhập vào thời kỳ Pháp thuộc trong thế kỷ thứ 19 và hiện nay đƣợc trồng ở vùng đồng bằng trong khắp cả nƣớc. Cà pháo có thể đƣợc trồng ở độ cao đến 600m. Một số vùng trồng cà pháo ngon có tiếng là huyện Nghi Lộc (Nghệ An), Láng (Hà Nội), Cái Sắn (huyện Tân Hiệp, Kiên Giang), huyện Lục Yên (Yên Bái)… (Kỹ sƣ Hồ, 2013).