MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Bưởi (Citrus grandis) là một trong những loài cây ăn quả có múi được trồng khá phổ biến ở nước ta cũng như các nước khu vực Châu Á như Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Malaysia, Philippin,. Cây bưởi đã mang lại giá trị kinh tế cao cho người nông. Hiện nay, cây ăn quả được xem là đối tượng quan trọng tham gia tích cực vào việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tăng cao hiệu quả kinh tế và cải thiện môi trường sinh thái, nhất là ở các tỉnh Trung du miền núi phía Bắc.
Bưởi không những có giá trị kinh tế cao mà còn có giá trị dinh dưỡng rất tốt, với hàm lượng đường từ 8 – 10 mg, gluxit 7,3 mg,caroten 0,02 mg trong 100g phần ăn được. Bưởi có hàm lượng rất lớn như A,C,E. cùng nhiều axit tự nhiên rất tốt cho sức khỏe con người, trong đó có chất Pectin giúp giảm lượng cholesterol trong máu nên hỗ trợ cho người béo phì tiểu đường rất tốt.Ngoài ra nó còn trị tiêu đờm, cảm cúm.Tuy nhiên do thị trường tiêu thụ chưa ổn định, người dân chưa an tâm đầu tư vào sản xuất, cộng với sự hiểu biết về kỹ thuật còn ít, khó khăn về nguồn vốn. Nhiều vườn bưởi bị tình trạng suy thoái, cây sinh trưởng kém, sâu bệnh gây hại nặng, còn bị chi phối bởi nhiều yếu tố khác như khí hậu, kỹ thuật canh tác, bón phân chưa hợp lý.
nên mẫu mã, chất lượng sản phẩm còn hạn chế do vậy mà giá thành còn rẻ, sản phẩm bảo quản sau thu hoạch còn khó khăn, chưa đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng, gây thiệt hại cho người sản xuất. Năng suất thấp và không ổn định, phẩm chất quả giảm, ảnh hưởng lớn đến hiệu quả kinh tế. Xuất phát từ những vấn đề trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón lá, chất kích thích sinh trưởng và tình hình sản xuất bưởi đào tại Trang trại Bùi Huy Hạnh, xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương”. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài Xác định được loại phân bón lá và chất điều hòa sinh trưởng phù hợp đối với bưởi đào để hoàn thiện quy trình kỹ thuật trồng và chăm sóc bưởi nhằm nâng cao năng suất, chất lượng tại Huyện Tứ Kỳ, Tỉnh Hải Dương.
Đánh giá tình hình sản xuất bưởi đào tại trang trại Bùi Huy Hạnh, xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương. Xác định được thuận lợi, khó khăn trong sản xuất bưởi đào tại trang trại Bùi Huy Hạnh. Yêu cầu của đề tài - Đánh giá ảnh hưởng của phân bón lá và chất điều hòa sinh trưởng đến năng suất, sâu bệnh hại, chất lượng quả của cây bưởi đào tại huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương. - Đánh giá tình hình sản xuất bưởi đào tại huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học - Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học về thử nghiệm một số loại phân bón lá, chất điều hòa sinh trưởng đối với bưởi đào tại huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương. - Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần bổ sung thêm những tài liệu khoa học phục vụ cho công tác giảng dạy cũng như nghiên cứu trên cây bưởi ở nước ta. Là cơ sở khuyến cáo các biện pháp kỹ thuật hiệu quả áp dụng trong thực tế sản xuất cho người dân.
Ý nghĩa thực tiễn - Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học giúp cho công tác xây dựng quy trình kỹ thuật, chỉ đạo sản xuất bưởi đạt hiệu quả hơn trong điều kiện đặc thù của địa phương cũng như các vùng có điều kiện tương tự. Luan van 3 - Kết quả nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật được áp dụng trong sản xuất bưởi sẽ góp phần nâng cao năng suất chất lượng và hiệu quả kinh tế cao cho người sản xuất, từ đó nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống. Luan van 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học và lý luận của đề tài Cây trồng nói chung và bưởi nói riêng luôn tồn tại các cơ chế điều khiển các quá trình sinh trưởng và phát triển nhằm thích ứng với các điều kiện ngoại cảnh, duy trì sự sống.Gibêrelin (Gibberellin) là một hoóc môn thực vật có tác dụng điều chỉnh sự phát triển ở thực vật và có ảnh hưởng tới một loạt các quá trình phát triển của cây, có hơn 70 loại Gibêrelin (Gibberellin) có mặt ở thực vật, vi sinh vật.
Có GA1, GA2 trong đó quan trọng nhất có thể kể đến là GA3. Gibêrelin (Gibberellin) kích thích sự nảy mầm, nảy chồi của các mầm ngủ, của hạt và củ, do đó nó có tác dụng trong việc phá bỏ trạng thái ngủ nghỉ của chúng. Hàm lượng Gibêrelin (Gibberellin) thường tăng lên lúc chồi cây, củ, căn hành hết thời kỳ nghỉ, lúc hạt nảy mầm. Trong trường hợp này của Gibêrelin (Gibberellin) kích thích sự tổng hợp của các enzyme amilaza và các enzyme thuỷ phân khác như protease, photphatase.
và làm tăng hoạt tính của các enzyme này, vì vậy mà xúc tiến quá trình phân hủy tinh bột thành đường cũng như phân hủy các polime thành monome khác, tạo điều kiện về nguyên liệu và năng lượng cho quá trình nảy mầm. Xử lý GA tăng tỷ lệ đậu quả và quả không hoặc ít hạt, tăng kích thước quả, tăng năng suất. Việc áp dụng biện pháp kỹ thuật bón phân trong từng giai đoạn là rất cần thiết vì cây trồng hấp thu dinh dưỡng nuôi cây phần lớn qua bộ rễ, tuy nhiên hàm lượng dinh dưỡng trong đất là không đủ, đặc biệt là các yếu tố vi lượng. Chính vì thế, việc phun phân bón lá nhằm bổ sung dinh dưỡng cho cây là rất cần thiết.
Nghiên cứu cải tiến các phương pháp phun bón phân cho cây trồng đã được thực hiện nhiều năm trên nhiều loại cây trồng. Phân bón qua lá cung cấp nhanh, kịp thời các chất dinh dưỡng đa lượng, vi lượng cần thiết cho quá trình sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực của cây, đặc biệt là thời kỳ cây sinh trưởng mạnh, cần tập trung dinh dưỡng để tạo hoa, nuôi quả. Tình hình sản xuất và tiêu thụ bưởi 2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ bưởi trên thế giới.
Hiện nay bưởi được phát triển khắp các lục địa, sự phát triển của các vùng bưởi trên thế giới có sự tương quan với các cuộc cách mạng công nghiệp ở các vùng. Vùng nào sớm phát triển công nghiệp thì nghề bưởi cũng sớm phát triển và ngược lại. Tình hình sản xuất bưởi trên thế giới Các châu lục trên thế giới Châu Chỉ tiêu Năm Châu Châu Châu Thế giới Châu Á Đại Phi Mỹ Âu Dương 2012 45.176 Nguồn: FAOSTAT/FAO Statistics - năm 2018[6] Luan van 6 Năm 2012 diện tích bưởi của toàn thế giới là 321.528 nghìn ha, năng suất trung bình đạt 256.302 tấn/ha, sản lượng đạt 8,240. Đến năm 2016, diện tích là 358.724 nghìn ha, năng suất từ năm 2012 đến năm 2016 là từ 256.302 tấn/ha xuống 252.957 tấn/ha và sản lượng từ năm 2012 đến năm 2016 là từ 8,240.840 nghìn tấn lên đến 9,074.176 nghìn tấn So sánh về diện tích của 5 châu lục năm 2016, châu Á có tổng diện tích lớn nhất 222.
- Châu Đại Dương có diện tích thấp nhất năm 2016 là 889 nghìn/ha, năng suất là 102.373 tấn/ha, sản lượng là 9. - Châu Á có diện tích năng suất sản lượng đều tăng qua các năm, diện tích năm 2012 là 185.982 nghìn/ha đến năm 2016 là 222. Năng suất 2012 là 279.795 tấn/ha đến năm 2016 là 291. Sản lượng năm 2012 là 5,203.680 nghìn tấn đến năm 2016 là 6,488.
- Châu Phi diện tích tăng từ năm 2012 là 45.207 nghìn/ha đến năm 2016 là 55.102 nghìn/ha nhưng năng suất và sản lượng giảm, năng suất từ năm 2012 là 164.581 tấn/ha đến năm 2016 là 148.997 tấn/ha, sản lượng năm 2012 là744.018 nghìn tấn đến năm 2013 là 872.924 nghìn tấn có sự tăng đáng kể xong đến 2016 thì giảm xuống còn 821. - Châu Mỹ có diện tích năng suất sản lượng đều giảm, diện tích năm 2012 là 86.746 nghìn/ha đến năm 2016 là 77. Năng suất năm 2012 là 254.535 tấn/ha đến năm 2016 là còn 215. Sản lượng năm 2012 là 2,207.992 nghìn tấn đến năm 2016 là 1,669.
- Châu Âu có diện tích tăng năm 2012 là 2.785 nghìn/ha đến năm 2016 là 3. Năng suất có sự tăng giảm, năm 2012 là 268.247 tấn/ha đến năm 2014 tăng lên là 301.465 tấn/ha đến 2016 giảm còn 276. Luan van 7 Sản lượng tăng từ năm 2012 là 74.707 nghìn tấn đến năm 2016 là 86. Tình hình sản xuất và tiêu thụ bưởi tại Việt Nam Bảng 1.
Tình hình sản xuất bưởi ở Việt Nam Năm STT Chỉ tiêu 2013 2014 2015 2016 1 Diện tích (nghìn/ha) 37.288 Nguồn : FAOSTAT,2018[6] Diện tích sản xuất bưởi của Việt Nam tăng năm 2013 là 37.733 nghìn/ha đến năm 2016 là 42.100 nghìn/ha tăng 4,367 nghìn/ha. Năng suất từ năm 2013 đến 2014 tăng 3,72 tấn /ha nhưng đến 2016 thì giảm tử năm 2014 là 120.225 tấn/ha đến 2016 là 118.120 tấn/ha giảm 2. Sản lượng tăng đều qua các năm, trong đó năm 2013 là 439.602 nghìn tấn đến năm 2016 là 497. Tình hình nghiên cứu cây ăn quả có múi 2.
Sử dụng phân bón lá cho cây bưởi Cây trồng hấp thu dinh dưỡng nuôi cây phần lớn qua bộ rễ, tuy nhiên hàm lượng dinh dưỡng trong đất là không đủ, đặc biệt là các yếu tố vi lượng. Chính vì thế, việc phun phân bón lá nhằm bổ sung dinh dưỡng cho cây là rất cần thiết. Luan van 8 Nghiên cứu cải tiến các phương pháp phun phân bón cho cây trồng đã được thực hiện nhiều năm trên nhiều loại cây trồng. Phân bón qua lá cung cấp nhanh, kịp thời các chất dinh dưỡng đa lượng, vi lượng cần thiết cho quá trình sinh trưởng, sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực của cây, nhất là thời kỳ cây sinh trưởng mạnh, cần tập trung dinh dưỡng để tạo hoa, nuôi quả.
Phân bón lá thực chất là các chế phẩm mà trong đó chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng dạng đa lượng, trung lượng và vi lượng. Mỗi chất có vai trò khác nhau đối với cây nhưng nếu thiếu cây trồng sẽ sinh trưởng và phát triển kém, năng suất, chất lượng nông sản giảm rõ rệt. Bón phân theo chuẩn đoán dinh dưỡng lá dựa trên 4 nguyên tắc: chức năng của lá, quy luật bù hoãn giảm dần, chức năng của các nguyên tố dinh dưỡng và sự đối kháng ion. Từ 4 nguyên tắc này Emblenton and Reuther (1973) [5] đã xây dựng được tiêu chuẩn về thành phần dinh dưỡng lá gồm 5 cấp: thiếu, thấp, tối thích, cao và thừa.