MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Cùng với sự đổi mới và phát triển của đất nước nền nông nghiệp nông thôn của nước ta đã có những bước phát triển nhanh, liên tục và khá toàn diện. Trong đó việc phát triển cây ăn quả cũng đã góp phần quan trọng vào ổn định đời sống, chính trị tạo cơ sở thuận lợi cho việc phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Trong những năm gần đây để đáp ứng nhu cầu của thị trường xã hội nền nông nghiệp việt nam ngày càng phát triển sản xuất cây ăn quả ngày được càng chú trọng tìm ra thêm nhiều giống mới phụ hợp và có giá trị cao. Trong số đó Dâu quả dài Đài Loan có tên khoa học làm (Morus macroura) là cây trồng cạn có giá trị kinh tế cao có nguồn gốc ở khu vực phía đông châu Á.
Sản phẩm của nó cung cấp thực phẩm cho con người, cung cấp chất dinh dưỡng vitamin, nguyên liệu cho chế biến ngoài ra còn có giá trị xuất khẩu. Dâu quả dài là giống Dâu của Đài Loan được du nhập nhiều vào nước ta trong những năm gần đây và trở thành cây trồng kinh tế cao vì cây cho sai quả, năng suất cao. Cây sai quả nhất khi đạt 4 năm tuổi và cho năng suất trên 45 tấn/ ha/ năm. Trong điều kiện tự nhiên, Dâu Đài Loan có thể cho ra quả 1 năm 2 lần vào vụ xuân và thu, và được xem là giống Dâu quả có năng suất cao và ổn định.
Dâu Đài Loan là giống Dâu duy nhất không có vị chua, hàm lượng đường cao, ngọt lịm, hương vị thơm mát nên quả Dâu có thể dùng để ăn tươi, làm mứt, Dâu khô, làm rượu,. Có tác dụng giảm mỡ máu, ngăn ngừa xơ cứng động mạch, làm đẹp da, chống lão hóa, tăng khả năng miễn dịch, kiềm chế u bướu, dưỡng huyết bổ âm… được giới y học đánh giá là “trái cây bảo vệ và tăng cường sức khỏe thế kỷ 21” 1 2 8 Qủa Dâu khi chín màu đỏ đậm hoặc tím đen thường được nhiều người đem đi ngâm rượu hay làm mứt… Quả Dâu giàu chất dinh dưỡng, ăn mềm, chua ngọt, nhiều nước được mọi người ưa chuộng. Toàn bộ cây Dâu đều là những vị thuốc, trong đó quả Dâu đã được sách vở từ đời Đường thừa nhận có công hiệu bổ gan thận, dưỡng huyết, trừ phong, tiêu khát, lợi ngũ tạng, khớp xương, thông huyết khí. Cây Dâu là cây có giá trị kinh tế với giá 30.
Được sử dụng với nhiều mục đích trong công nghiệp như sản xuất rượu hay làm thực phẩm. Quả Dâu là một vị thuốc nam bổ dưỡng, tốt cho sức khỏe đặc biệt là sinh lý nam giới. Chế biến quả Dâu bằng nhiều cách, từ đơn giản đến phức tạp: như nước ép Dâu, Cao Dâu, Dâu ủ men, Dâu hấp, mứt Dâu, bột Dâu, Dâu xào thịt… Trong các chế phẩm đó, có khi chỉ dùng trái Dâu, có khi phối hợp thêm nhiều thức ăn hay các vị thuốc Đông y khác để phục vụ cho mục đích điều trị khác nhau. Theo Trung dược học bản thảo Trái Dâu có công dụng bổ thận, dưỡng huyết, khu phong, sáng mắt, tăng lực, chữa táo bón kinh niên; theo bản thảo cương mục Lý Thời Trần: Trái Dâu giải được độc của rượu, lợi cho cả khí, cả thuỷ trong cơ thể.
Theo Viện Dược liệu Bộ Y tế: Trong quả Dâu: Nước 84,71%; Đường 9,19%; Axit 80%; Protit 0,36%; Tanin; Vitamin C; Caroten. Trong đường có glucoza , fructoza. Trong axit có axit malic axit succini. Một số tài liệu Trung Quốc cho biết: Cứ 100g quả Dâu có 1,6g anbumin, 0,4 chất béo, 9,6g chất đường, 20mg caroten, 30mg canxi, 33mg phốtpho, 0,3mg sắt.
Trước những lợi lớn như vậy cũng như để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về quả Dâu ở nước ta, chúng ta cần quan tâm phát triển cây Dâu về năng suất và chất lượng. Nhưng để cây Dâu có năng suất cao cần phải có biện pháp trồng và phân bón thích hợp để cung cấp chất dinh dưỡng cho đất cho tơi xốp, 1 3 8 tăng hoạt động của vi sinh vật. Vì vậy cần tìm ra một hàm lượng phân bón thích hợp nhất cho cây Dâu để cây sinh trưởng và phát triển tốt nhất. Xuất phát từ thực tiễn chúng tôi đã thực hiện đề tài: Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng và phát triển của giống Dâu thu hoạch quả tại xã Việt Thành, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái.2 Mục tiêu đề tài Xác định được mức phân bón phù hợp cho giống Dâu quả dài tại xã Việt Thành, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1.1 Ý nghĩa khoa học Đề tài là công trình nghiên cứu sinh trưởng phát triển của cây Dâu thu hoạch quả được trồng với các công thức thí nghiệm phân bón khác nhau.
Các kết quả nghiên cứu đạt được sẽ góp phần cung cấp dữ liệu khoa học cho công tác nghiên cứu cây Dâu cũng như kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở và gợi ý cho các nghiên cứu tiếp theo về cây Dâu.2 Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp lựa chọn được công thức phân bón cho cây Dâu có khả năng sinh trưởng và phát triển tốt nhất phù hợp với điều kiện sinh thái của vùng. 1 4 8 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Nguồn gốc và lịch sử phát triển của cây Dâu Cây Dâu vốn là cây hoang dại, đây là loại cây bản địa của vùng khí hậu ôn đới ở châu Á và Bắc Mỹ. Theo nhà thực vật học WattG cây Dâu có lẽ có nguồn gốc từ Trung Quốc. Trung Quốc là nước có nghề trồng Dâu sớm nhất trên thế giới, sau đó Dâu mới được phát triển và lan rộng đến các vùng khác trên thế giới.
Cách đây 4 - 5 nghìn năm người Trung Quốc đã biết nuôi tằm và thuần hoá giống tằm, cuốn Biên niên sử đã đề cập tới Dâu tằm vào triều vua Châu Vương (2200 trước Công nguyên). Tơ lụa thời đó được dành riêng cho vua chúa và hàng quí tộc, nó thể hiện sự thuần phục của dân đối với vua, ngành Dâu tằm tơ được người Trung Quốc giữ kín rất lâu, phải gần 1000 năm sau ngành nghề này mới được để lộ và lan truyền sang các nước lân cận bằng con đường tơ lụa. Theo một số tài liệu khác cho rằng nghề Dâu tằm được lan truyền sang Triều Tiên vào khoảng năm 1200 trước Công nguyên, sau đó là Nhật Bản thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên, Ấn Độ giữa thế kỷ 2 trước Công nguyên. Theo các nhà lịch sử phương Tây, cây Dâu được trồng phát triển ở Ấn Độ thông qua Tây Tạng vào khoảng năm 1400 trước Công nguyên và nghề trồng Dâu, nuôi tằm bắt đầu ở vùng châu thổ sông Hằng.
Theo các nhà lịch sử Ấn Độ, nơi nuôi tằm đầu tiên ở đây là thuộc vùng núi Hymalaya. Khi người Anh đến Ấn Độ, do buôn bán tơ lụa mà nghề Dâu tằm được phát triển và lan rộng sang vùng khác như Mysore, Jamu, Kashmir. Ả Rập do nhập trứng tằm và hạt Dâu từ Ấn Độ nên cũng là một trong những nơi sớm có nghề Dâu tằm vào thế kỷ 4, nghề Dâu tằm được thiết lập ở 1 5 8 Ấn Độ như là trung tâm của châu Á và tơ lụa được xuất khẩu tới Roma (Ý), nhưng đến thế kỷ 6 người Roma đã học được kỹ nghệ sản xuất tơ và tơ đã được sản xuất ở châu Âu, người Roma đã hoàn toàn chiếm lĩnh trong lĩnh vực sản xuất này. Từ Ý, Dâu tằm được phát triển tới Hy Lạp, Áo và Pháp.
Ở Áo, Dâu tằm được phát triển mạnh vào thế kỷ 9 - 11, ở Pháp trồng Dâu nuôi tằm được bắt đầu từ năm 1340. Ngành Dâu tằm của Pháp được thành lập vào cuối thế kỷ 17 và phát triển tới giữa thế kỷ 18. Trong thế kỷ 19, Dâu tằm Pháp bị dịch tằm gai (Nosema) và bệnh đã lan truyền sang châu Âu và Trung Đông. Do đó ngành Dâu tằm đã bị khủng hoảng do bệnh dịch này.
Năm 1870 Louis Pasteur đã phát hiện ra bào tử gai là nguyên nhân gây bệnh và ông đã đưa ra cách loại trừ bệnh dịch này, do vậy mà ngành Dâu tằm đã thoát khỏi khủng hoảng và nay được tiếp tục được mở rộng phát triển. Vì lợi ích kinh tế đem lại nên ngành Dâu tằm tơ được nhiều nước quan tâm. Cây Dâu tằm có Dâu tằm trắng, Dâu tằm đen và Dâu tằm đỏ. Cây Dâu thu hoạch quả có Dâu quả dài và Dâu quả tròn.
Trong đó giống Dâu quả dài còn gọi là giống Dâu quả siêu dài, được các nhà khoa học Đài Loan tuyển chọn trong quá trình lai tạo giống Dâu quả thông thường với giống Dâu quả dài dại, có tên tiếng Anh là Muberry, tên khoa học Morus macroura, thuộc chi Dâu tằm (Morus), họ Dâu tằm (Moracace) nguyên sản là cây Dâu dại vùng thung lũng độ cao 1.300 m của dãy Hymalaya hoặc rừng mưa nhiệt đới.000 năm trước đây quả Dâu đã được xếp vào loại thực phẩm bổ dưỡng dành cho các vị Hoàng đế Trung Hoa. Cây Dâu sinh trưởng trong môi trường tự nhiên trong sạch, không bị ô nhiễm nên gọi là loại quả sạch, thơm ngon. Cây Dâu thẳng đứng, cành dài, nhiều cành nhánh. Trồng ở Quảng Đông (Trung Quốc) nảy chồi vào tháng 2, tháng 3 bật chồi, cuối tháng 4 bắt đầu có quả chín 1 6 8 Các giống Dâu thu hoạch quả có thể nhân giống thông qua sử dụng chồi thân để nuôi cấy trong môi trường nhân tạo từ đó tạo ra cây con phục vụ sản xuất hoặc ghép cành trên các giống ở địa phương ….2 Giá trị dinh dưỡng và sử dụng của cây Dâu Cây Dâu quả dài có thể ra quả ngay từ năm đầu, năm được mùa thì năng suất có thể đạt 100 kg quả trên 1 cây, mỗi chồi mới có 3 - 6 quả, bình quân quả đơn nặng 4,5 gram, dài 8 - 20 cm, đường kính 0,5 - 0,9 cm, khi chín màu đỏ hoặc đen tía, thịt quả có độ đường 22 độ đặc biệt là Dâu quả dài Đài Loan là giống Dâu duy nhất không có vị chua, hàm lượng đường cao, ngọt lịm, hương vị tươi mát, dinh dưỡng phong phú, màu sắc đẹp, nên còn được gọi là “quả thánh trong dân gian”, vừa là thực phẩm bổ dưỡng, vừa có thể làm thuốc quý.
Sử dụng quả Dâu Đài Loan để ăn tươi, làm mứt Dâu, Dâu khô, vang Dâu… có tác dụng làm giảm mỡ máu, ngăn ngừa xơ cứng động mạch, làm đẹp da, chống lão hóa, tăng khả năng miễn dịch, kiềm chế u bướu, dưỡng huyết bổ âm….