Đặt vấn đề Rừng là tài nguyên vô cùng quý giá của con người, nếu chúng ta biết khai thác và sử dụng, bảo vệ một cách hợp lý. Rừng không chỉ cung cấp những vật dụng thực phẩm lâm đặc sản như: thuốc men, gỗ củi, tre, nứa…mà rừng còn là lá phổi xanh của nhân loại, điều hòa khí quyển, hấp thu chất độc hại như: CO2, SO2 và làm cân bằng môi trường sinh thái đem lại cuộc sống trong lành cho con người và mọi sinh vật. Trong những năm qua của thế kỷ XX, do nhiều nguyên nhân rừng nước ta vẫn trong tình trạng suy giảm về chất lượng, diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp. Theo số liệu điều tra của viện điều tra quy hoạch rừng, Năm 1945diện tích rừng tự nhiên của nước ta là 14triệu ha tương đương với độ che phủ là 43% đến năm 1990 diện tích rừng tự nhiên nước ta chỉ còn 9,175triệu ha, tương đương với độ che phủ là 27,2% Nguyên nhân chủ yếu là do chiến tranh, đốt nương làm rẫy, khai thác rừng bừa bãi.Từ khi chính phủ có chỉ thị 268/TTg (1996) cấm khai thác rừng tự nhiên nên tốc độ rừng phục hồi đã trở nên khả quan hơn.
Đến Năm 2003 tổng diện tích rừng của cả nước ta là 12triệu ha, với độ che phủ là 36,1%. Trong đó rừng tự nhiên chiếm 10triệu ha và rừng trồng là 2triệu ha. Từ đó nó cũng dần dần cung cấp cho con người rất nhiều sản phẩm, duy trì sự phát triển của động thực vật có giá trị kinh tế cao đồng thời rừng còn là một trong những thế mạnh của khu vực miền núi trung du. Rừng giữ vai trò to lớn đối với an ninh quốc phòng, có giá trị kinh tế quốc dân.
Rừng còn cung cấp nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp, là nguyên liệu đồ da dụng, nó còn cung cấp những cây thuốc hiếm làm tăng tuổi thọ cho nhân loại. e 2 Ngày nay Đảng và nhà nước đã tạo mọi điều kiện để thu hút người dân sống trong và gần rừng tham gia bảo vệ rừng trồng, để bảo vệ nguồn gen cũng như làm cho rừng giàu thêm và phục hồi lại nhằm phủ xanh đồi núi trọc. Với địa thế tự nhiên nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa đã hình thành nên kiểu rừng nhiệt đới nhiều tầng tán, cây cối xanh tốt quanh năm thực vật rừng rất phong phú và đa dạng cả về loài cây và về số lượng, nó không chỉ làm giàu thêm cho rừng mà nó còn có tác dụng bảo vệ môi trường khỏi ô nhiễm mà còn tránh gây tiếng ồn cho môi trường xung quanh. Với những lợi thế trên, đất nước ta ngày càng phát triển.
Trồng rừng cảnh quan cũng góp phần làm tăng khả năng phòng hộ cuả rừng. Để trồng rừng thành công, đạt hiệu quả cao, một trong những yếu tố ảnh hưởng quyết định đó là giống, cây con đem trồng phải đảm bảo không những về số lượng mà phải đảm bảo cả về chất lượng [9]. Trong sản xuất cây con từ hạt có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây con trong giai đoạn vườn ươm, trong đó có hỗn hợp ruột bầu. Ruột là nơi cung cấp chủ yếu dinh dưỡng cho cây cây con trong giai đoạn nuôi dưỡng ở vườn, tuy nhiên mỗi loài cây phù hợp với thành phần ruột bầu khác nhau.
Thực tế có những kết quả nghiên cứu đầy đủ về tạo hỗn hợp ruột bầu và được áp dụng vào sản xuất cho một số loài cây đã sử dụng để trồng rừng trong cả nước. Ngâu (Aglaia duperreana) là một trong các loài cây được trồng và sử dụng trong hệ thống cây xanh, cho bóng mát và hoa đẹp nên được trồng nhiều để làm cây cảnh trong công viên, đô thị hiện nay ở nhiều nơi trong cả nước nói chung và Thái Nguyên nói riêng. Tuy nhiên chưa có nghiên cứu sâu về kỹ thuật gieo ươm loài cây Ngâu trên địa bàn Thái Nguyên. Xuất phát từ những vấn đề nói trên, tôi đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu đến sinh trưởng của cây Ngâu (Aglaia duperreana) tại vườn ươm Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên”.
Mục đích nghiên cứu - Tạo ra đủ số lượng và chất lượng cây con cung cấp giống phục vụ cho công tác trồng cây phong cảnh, đẹp trong công viên, khuôn viên, đô thị hiện nay. Mục tiêu nghiên cứu - Xác định được công thức hỗn hợp ruột bầu phù hợp cho sự sinh trưởng cuả cây Ngâu ở giai đoạn vườn ươm. Ý nghĩa nghiên cứu -Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học + Giúp cho sinh viên làm quen với thực tế sản xuất biết áp dụng lý thuyết vào thực tế, tích lũy kinh nghiệm cho bản thân để áp dụng vào phát triển sản xuất. + Các kết quả nghiên cứu là cơ sở nghiên cứu khoa học cho các nghiên cứu tiếp theo và xây dựng quy trình kỹ thuật gieo ươm cây Ngâu.
+ Học được cách sắp xếp, bố trí công việc trong học tập nghiên cứu một cách khoa học. + Tạo cho sinh viên một tác phong làm việc làm tự lập khi ra thực tế. - Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất + Kết quả nghiên cứu vận dụng vào sản xuất để tạo hỗn hợp ruột bầu phù hợp khi gieo ươm Ngâu. + Thành công của đề tài sẽ có ý nghĩa quan trọng trong thực tế sản xuất, qua đây ta tìm được công thức hỗn hợp ruột bầu thích hợp cho sinh trưởng của cây con trong giai đoạn vườn ươm.
+ Đề xuất xây dựng những biện pháp chăm sóc tạo giống cây con ở giai đoạn vườn ươm. Tạo cây con đảm bảo có chất lượng tốt. e 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học Theo bộ Lâm nghiệp, cây con được tạo ra từ các vườn ươm phải đảm bảo cây giống được lựa chọn có những phẩm chất tốt phù hợp với điều kiện tự nhiên, khí hậu, đất đai để giảm bớt sự cạnh tranh của các loài cây khác với chúng.
Việc chăm sóc cây con sẽ đảm bảo cho sự phát triển của cây con trong tương lai. Các loài phân hóa học được sử dụng chăm sóc cây con trong thời gian ngắn. Bón phân này cần kết hợp với các biện pháp lâm sinh như: Nhổ cỏ, tưới nước, phòng trừ sâu bệnh phải thường xuyên phát huy tối đa hiệu lực của phân bón [4] Trong sản xuất nông nghiệp: Đất là giá thể, môi trường sinh sống trực tiếp của bộ rễ và là nguồn cung cấp nước, chất dinh dưỡng cho cây. Đất tốt, cây sinh trưởng tốt ra hoa kết quả sớm, sản lượng - chất lượng quả, hạt cao chu kỳ sai quả ngắn và ngược lại.
Đất tốt là đất giàu dinh dưỡng chủ yếu là N, P, K. và các nguyên tố vi lượng cần thiết đồng thời các thành phần đó có một tỉ lệ thích hợp [1]. Trong gieo ươm [8]: - Điều kiện đất đai: Đất là hoàn cảnh để cây con sinh trưởng, phát triển sau này, cây con sinh trưởng, phát triển tốt hay sấu là do đất cung cấp chất dinh dưỡng, nước và không khí cho cây có được đầy đủ hay không quyết định. Chất dinh dưỡng, nước và không khí trong đất có đầy đủ cho cây hay không chủ yếu là do: Thành phần cơ giới, độ ẩm, độ pH… của đất quyết định.
+ Thành phần cơ giới của đất: Đất vườn ươm nên chọn thành phần cơ giới cát pha có kết cấu tơi xốp, thoáng khí, khả năng thấm nước và giữ nước e 5 tốt, loại đất này thuận lợi cho hạt nảy mầm, sinh trưởng của cây con, dễ làm đất và chăm sóc cây con hơn… Tuy nhiên chọn đất xây dựng vườn ươm cũng cần căn cứ vào đặc tính sinh học loài cây, ví dụ: Gieo ươm cây Mỡ ưa đất thịt trung bình, đất tơi xốp, thoáng khí và ẩm. Gieo ươm cây Thông ưa đất cát pha, thoát nước tốt. Không nên chọn đất sét chặt bí hoặc đất cát tơi rời, không thích hợp với nhiều loài cây + Độ phì của đất: Đất có độ phì tốt là đất có hàm lượng cao các chất dinh dưỡng khoáng chủ yếu cho cây như: N, P, K, Mg, Ca và các chất vi lượng khác… Đồng thời tỷ lệ các chất phải cân đối và thích hợp. Gieo ươm trên đất tốt cây con sinh trưởng càng nhanh, khỏe mập, các bộ phận rễ, thân, cành, lá phát triển cân đối.
Mặt khác cây con đem trồng rừng có tỷ lệ sống và sức đề kháng cao với hoàn cảnh khắc nghiệt nơi trồng, giảm được công chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh hại… Vì vậy chọn đất vườn ươm cần có độ phì cao. + Độ ẩm của đất: Có ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng, phát triển cân đối giữa các bộ phận dưới mặt đất và trên mặt đất của cây con. Đất quá khô hoặc quá ẩm đều không tốt. Mực nước ngầm trong đất cao hay thấp có liên quan đến độ ẩm của đất, mực nước ngầm thích hợp cho loại đất cát pha ở độ sâu là 1,5 - 2m; Đất sét là trên 2,5m.
Chọn đất vườn ươm không nên chỉ dựa vào độ ẩm của đất, mực nước ngầm cao hay thấp mà còn tùy thuộc vào đặc tính sinh vật học của từng loài cây ươm. Ví dụ: Gieo ươm cây Phi lao nên chọn đất thường xuyên ẩm, song gieo ươm cây Thông cần phải chọn đất nơi cao ráo, thoát nước. + Độ pH của đất: Có ảnh hưởng tới tấc độ nẩy mầm của hạt giống và sinh trưởng của cây con, đa số các loài cây thích hợp với độ pH trung tính, cá biệt có loài ưa chua như cây Thông, ưa kiềm như Phi lao. e 6 - Sâu bệnh hại Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm, mưa nhiều nên hầu hết các vườn ươm đều có nhiều sâu, bệnh hại, làm ảnh hưởng đến sản lượng và chất lượng cây con, tăng giá thành sản xuất cây con, thậm chí có nơi còn dẫn đến thất bại hoàn toàn.
Cho nên trước khi xây dựng vườn ươm cần điều tra mức độ nhiễm sâu bệnh hại của đất, để có biện pháp sử lý đất trước khi gieo ươm hoặc không xây dựng vườn ươm ở những nơi bị nhiễm sâu bệnh nặng. Theo Sở nghiên cứu đất thuộc viện khoa học Nông Nghiệp Trung Quốc: Mục đích của việc bón phân là nhằm làm cho cây phát triển và đạt năng suất cao, có phẩm chất tốt, cho nên bón phân phải phù hợp với yêu cầu sinh trưởng và phát triển của cây trồng mới phát huy tối đa tác dụng của phân bón. Sinh trưởng và phát triển của cây trồng có quan hệ mật thiết với điều kiện bên ngoài. Phân bón là chất dùng để cung cấp một trong nhiều chất cần thiết cho cây.