MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Cây đậu tương (Glycine Max (L) Merill) là cây trồng cạn có tác dụng rất nhiều mặt, cung cấp thực phẩm cho con người, nguyên liệu cho chế biến, thức ăn gia súc gia cầm, cây cải tạo đất và là mặt hàng xuất khẩu có giá trị. Giá trị về mặt nông nghiệp của đậu tương cũng rất cao, thân lá của đậu tương có nhiều Prôtêin, hàm lượng vào khoảng 8 – 15% cao gấp 3 – 5 lần hàm lượng Protêin trong rơm rạ các loại cây hạt ngũ cốc. Vì vậy, thân lá đậu tương còn được sử dụng làm thức ăn cho gia súc, gia cầm và là nguồn chất xanh (phân xanh) cải tạo đất. Đậu tương sau khi ép lấy dầu thì khô dầu đậu tương vẫn còn lại hàm dinh dưỡng khá cao như: Đạm 6,2%, Lân 0,7%, Kali 2,4%, 70% dầu, 40% bột đường.
Giống đậu tương ĐT51 do Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Đậu đỗ- Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm chọn lọc từ tổ hợp lai giữa LS17 x ĐT2001.Giống có thời gian sinh trưởng trung bình từ 90 – 95 ngày, năng suất từ 20 – 29 tạ/ha, giống thích hợp cả 3 vụ trong năm. Nhìn chung N tạo ra protit cho cây, giúp cây đâm cành ra lá nhanh, P tạo năng lượng, giúp hình thành các chất có dầu, tăng chất lượng nhựa cây, chống hạn và chống rét tốt, giúp cây chín sớm. Còn kali tạo nhiều đường bột, giúp cây cứng cáp, chống bệnh và chống đổ ngã tốt. Vì vậy, tùy loại cây và tùy vào bộ phận cần thu hoạch để quyết định tỷ lệ bón N:P:K cho thích hợp.
Nguồn phân bón rất đa dạng, đòi hỏi người sản xuất đậu tương phải biết sử dụng các loại phân bón phù hợp và sao cho đúng liều lượng, cân đối và bón đúng thời điểm mới tăng năng suất và chất lượng đậu tương. Xuất phát từ thực tiễn năng suất đậu tượng chịu ảnh hưởng của nhiều yếu 2 tố như: thời tiết, mùa vụ, giống phân bón .nhằm nâng cao năng suất của đậu tương trong đó phương thức bón phân ảnh hưởng nhiều đến năng suất cây đâu tương và biện pháp sử dụng phân bón vô cơ là biện pháp nhanh và rẻ tiền nhất,hiệu quả phù hợp với điều kiện kinh tế người dân việt nam. Từ thực tiễn trên chúng tôi đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của tổ hợp phân vô cơ đến sinh trưởng và năng suất của đậu tương DDT51 vụ Hè Thu 2017 tại Thái Nguyên”.Mục tiêu của đề tài 1. Mục tiêu chung Xác định được tổ hợp phân bón vô cơ (NPK) thích hợp nhằm nâng cao năng suất và chất lượng giống đậu tương ĐT51 vụ Hè Thu 2017 tại Thái Nguyên.Mục tiêu cụ thể - Xác định tổ hợp phân bón vô cơ có ảnh hưởng tốt đến các chỉ tiêu nông sinh học giống đậu tương ĐT51 vụ Hè Thu 2017 tại Thái Nguyên.
- Xác định tổ hợp phân bón vô cơ có ảnh hưởng tốt đến một số chỉ tiêu sinh lí giống đậu tương ĐT51 vụ Hè Thu 2017 tại Thái Nguyên. - Xác định tổ hợp phân bón vô cơ có ảnh hưởng tốt đến mức độ nhiễm sâu bệnh giống đậu tương ĐT51 vụ Hè Thu 2017 tại Thái Nguyên. - Xác định tổ hợp phân bón vô cơ có ảnh hưởng tốt đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất giống đậu tương ĐT51 vụ Hè Thu 2017 tại Thái Nguyên.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1.1 Ý nghĩa khoa học Kết quả ngiên cứu đề tài nhằm bổ sung thêm những tài liệu khoa học về cây đậu tương phục vụ cho công tác giảng dạy, nghiên cứu và chỉ đạo sản xuất ở địa phương.Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu góp phần hoàn thiện quy trình thâm canh đậu tương nói chung và trên đất Thái Nguyên nói riêng. Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ góp phần tăng năng suất và hiệu quả kinh tế cho người sản xuất đậu tương.
4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.Cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn của đề tài 2. Cơ sở khoa học Kiểu hình có liên quan chặt chẽ với kiểu gen. Sự biểu hiện kiểu hình ra bên ngoài là kết quả của sự tương tác giữa kiểu gen với môi trường sống qua đó phản ánh mức độ thích nghi của giống cây trồng với điều kiện ngoại cảnh Kiểu gen + môi trường -> kiểu hình. Sự sinh trưởng phát triển, khả năng cho năng suất của cây trồng chịu sự tác động sâu sắc của môi trường và điều kiện trồng trọt.
Cùng một giống nhưng điều kiện chăm sóc khác nhau thì khả năng cho năng suất khác nhau. Trong điều kiện sản suất nông nghiệp nói chung và sản suất đậu tương nói riêng việc xách định được môi trường thích hợp cho mỗi giống để chúng sinh trưởng, phát triển tốt cho năng suất cao là rất cần thiết. Trong đó xác định được liều lượng phân bón, đặc biệt là phân bón vô cơ thích hợp cho giống nhằm đem lại hiệu quả kinh tế có ý nghĩa thực tiễn thúc đẩy sản xuất đậu tương phát triển 2.Cơ sở thực tiễn Thái Nguyên là tỉnh thuộc vùng trung du miền núi phía Bắc có diện tích đất tự nhiên khoảng 353,3 nghìn ha.Trong đó diện tích đất nông nghiệp chiếm trên 30% (Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên, 2013). Cây đậu tương là cây trồng chủ đạo, tuy nhiên diện tích luôn giảm do về giống, chế độ canh tác.
Vụ hè thu là vụ có nhiệt độ cao, độ ẩm cao nhưng rất thích hợp cho cây đậu tương sinh trưởng và phát triển. Do vậy cần nhiều thử nghiệm với giống đậu tương mới và có chế độ thâm canh mới để cho năng suất cao và ổn định.Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu tương trên thế giới và trong nước 2.Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới Cây đậu tương được phân bố rộng rãi, rải từ vĩ độ 500 Bắc đến 500 Nam. 90% sản lượng đậu tương hiện nay được sản xuất từ các nước ôn đới nơi có điều kiện chiếu sáng ngày dài từ 14 – 15 giờ/ngày, thích hợp cho sự phát triển cuả cây đậu tương. Sự biến động về diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương trên Thế giới được thể hiện qua bảng số liệu sau: Bảng 2.
Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới những năm gần đây Chỉ tiêu Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) 2006 95,31 23,289 221,96 2007 90,15 24,372 219,72 2008 96,45 23,977 231,26 2009 99,32 22,492 223,40 2010 102,61 25,849 265,25 2011 103,60 25,324 262,35 2012 104,99 23,033 241,84 2013 111,26 24,841 276,40 2014 117,63 26,044 306,37 2015 120,79 26,757 323,20 2016 121,53 27,556 334,89 (Nguồn: FAOSTAT, 2018) 6 Qua bảng 2.1 cho thấy: Về diện tích: Trong những năm gần đây diện tích trồng đậu tương trên thế giới có xu hướng tăng lên, dao động từ 95,31 triệu ha đến 121,53 triệu ha. Trong vòng 10 năm từ 2006 - 2016 diện tích trồng đậu tương tăng 26,22 triệu ha. Năm 2016 diện tích trồng đậu tương của thế giới là 121,53triệu ha, qua bảng số liệu cho thấy diện tích trồng đậu tương ngày càng tăng lên. Về năng suất: Năng suất đậu tương trên thế giới những năm gần đây tương đối ổn định dao động từ 23,289 tạ/ha đến 27,556tạ/ha.
Năm 2015 năng suất đậu tương đạt cao nhất là 27,757 tạ/ha và thấp nhất là năm 2009 đạt 22,492 tạ/ha. Về sản lượng: Sản lượng đậu tương trên thế giới trong những năm vừa qua có những biến động nhỏ. Nhìn chung từ năm 2006 tới năm 2016 sản lượng đậu tương trên thế giới tăng từ 221,96 triệu tấn đến 334,89 triệu tấn, tăng 112,93 so với năm 2006. Sản lượng trồng đậu tương tăng nhanh như vậy nguyên nhân là do diện tích trồng đậu tương trong những năm gần đây cũng tăng lên và do người trồng đậu tương đã ứng dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật tiên tiến để phục vụ sản xuất.Năm 2016 sản lượng cao nhất đạt 334,89 triệu tấn và thấp nhất là năm 2007 sản lượng đạt 219,72 triệu tấn.Riêng năm 2011 và 2012 sản lượng đậu tương giảm mặc dù diện tích trồng đậu tương vẫn tăng là do thời tiết khí hậu không thuận lợi, thường xuyên xảy ra thiên tai hạn hán.
Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam Cây đậu tương đã có mặt ở Việt Nam rất sớm khoảng thế kỷ thứ 8. Được trồng và phát triển đến nay nó đã chiếm một vị trí quan trọng trong nền sản xuất nông nghiệp, chỉ đứng sau lúa nước và ngô. Ngoài tác dụng làm thực phẩm, thức ăn gia súc, làm thuốc. đậu tương còn giúp cải tạo đất, nó thích hợp với nhiều loại đất kể cả đất cằn cỗi, nghèo dinh dưỡng.
Nhận thức được 7 tầm quan trọng của cây đậu tương trong phát triển kinh tế Đảng và Nhà nước ta đã và đang chú trọng vào phát triển sản xuất cây đậu tương. Sản xuất đậu tương trong nước nhằm 3 mục đích: - Giải quyết vấn đề prôtêin cho người và gia súc. - Cải tạo đất. Theo số liệu thống kê của chính phủ, đậu tương được trồng ở 28 tỉnh trên khắp cả nước, trong đó 70% ở miền Bắc và 30% ở miền Nam.
Khoảng 65% đậu tương nước ta được trồng ở vùng cao, những nơi đất không màu mỡ và 35% được trồng ở những vùng đất thấp ở khu vực đồng bằng sông Hồng. Đậu tương được trồng ở nhiều địa phương trên cả nước vào những thời điểm khác nhau nên có cả vụ xuân, vụ hè và vụ đông. Nhận thức được vai trò quan trọng của cây đậu tương trong việc phát triển kinh tế, nước ta đã và đang chú trọng vào sản xuất đậu tương, văn kiện Đại hội V của Đảng cộng sản Việt Nam (tập II trang 37) có ghi: “Đậu tương cần được phát triển mạnh mẽ để tăng nguồn đạm cho người, gia súc, đất đai và trở thành một loại hàng hoá xuất khẩu chủ lực ngày càng quan trọng”. Nhưng khi đánh giá về tốc độ phát triển sản xuất đậu tương thì Việt Nam cũng là nước có tốc độ phát triển nhanh so với các nước khác trên thế giới.
Diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương ở Việt Nam những năm gần đây được thể hiện qua bảng 2. Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Namtrong những năm gần đây Chỉ tiêu Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (nghìn ha) (tạ/ha) (nghìn tấn) 2006 185,60 13,91 258,10 2007 187,40 14,70 275,50 2008 192,10 13,93 267,60 2009 147,00 14,64 215,20 2010 197,80 15,10 298,60 2011 181,39 14,70 266,54 2012 120,75 14,52 175,30 2013 117,80 14,50 168.2 cho thấy: Về diện tích: Trong vòng 10 năm diện tích trồng đậu tương luôn có sự biến động, tăng giảm không ổn định.