ĐẶT VẤN ĐỀ Cây lúa (Oryza sativa L.) là cây lƣơng thực quan trọng, chủ lực trong cơ cấu cây trồng tại Hà Nội nói chung và huyện Ứng Hòa nói riêng. Hiện nay, giống lúa sản xuất chủ yếu là các giống cho năng suất cao nhƣ Khang Dân, Nhị Ƣu 838, Bắc thơm số 7.nhƣng phẩm chất còn hạn chế, không đáp ứng đƣợc yêu cầu sử dụng các loại gạo thơm, ngon ngày càng cao của xã hội. Công tác nghiên cứu về kỹ thuật cụ thể nhƣ mật độ, phân bón, sâu bệnh cho từng vùng, từng chất đất. chƣa đƣợc chú trọng và chủ yếu theo tập quán cũ.
Do vậy dẫn đến năng suất, chất lƣợng chƣa ổn định, phát sinh nhiều chi phí, đầu vào cao và hiệu quả thấp. Vì vậy việc nghiên cứu hoàn thiện quy trình thâm canh lúa thuần thƣơng phẩm mới có năng suất và chất lƣợng tốt phù hợp với vùng sản xuất của huyện Ứng Hòa là hƣớng đi hết sức đúng đắn và cần thiết. Trong sản xuất lúa, mật độ cấy là yếu tố quan trọng nhất ảnh hƣởng trực tiếp đến quá trình hình thành số bông, quyết định đến năng suất. Mật độ cấy liên quan chặt chẽ đến quá trình đẻ nhánh và khả năng chống đổ.
Các kết quả nghiên cứu của nhiều nhà khoa học đã khẳng định: khi các biện pháp kỹ thuật khác đƣợc duy trì thì chọn mật độ cấy hợp lý là phƣơng án tối ƣu để đạt đƣợc số hạt nhiều nhất trên một đơn vị diện tích gieo cấy (Nguyễn Văn Hoan, 1995). Phân bón là nguồn dinh dƣỡng thiết yếu đối với cây trồng nói chung và vây lúa nói riêng. Trong đó nguyên tố đa lƣợng là đạm, lân, kali là 3 nguyên tố quan trọng ảnh hƣởng trực tiếp đến năng suất cây trồng. Đạm giữ vai trò quan trọng trong các hoạt động sinh học, là thành phần của protein và các axit amin.
Lân là nguồn năng lƣợng vận chuyển và bảo tồn vật chất, thúc đẩy đẻ nhánh, trỗ bông và tăng cƣờng chất lƣợng hạt. Kali giúp tăng khả năng chống chịu cho cây, tăng cƣờng tích lũy về hạt và nâng cao chất lƣợng gạo. Vì vậy việc xác định lƣợng bón cân đối các nguyên tố trên đối với từng giống lúa là quan trọng. Giống lúa thuần Hƣơng Việt 3 là giống lúa thuần đƣợc Viện nghiên cứu lúa thuộc Học viện Nông nghiệp Việt Nam nghiên cứu và chọn tạo từ nguồn gen quý của các giống Tám Thơm, D42 (Việt Nam), giống lúa Hoa Sữa (Mỹ) và giống Daikokij (Nhật Bản).
Hiện giống đã đƣợc công nhận sản xuất thử và đang đƣợc mở rộng ở các vùng sản xuất khác nhau trên địa bàn các tỉnh phía Bắc nhƣ Lai Châu, Thái Bình, Hà Nội. Kết quả sản xuất thử cho thấy giống lúa thuần 1 Hƣơng Việt 3 thích ứng tốt tại các vùng sản xuất khác nhau nhƣ khả năng đẻ nhánh, khả năng chống chịu sâu bệnh và đặc biệt là chất lƣợng gạo rất thơm ngon, mềm, dẻo, năng suất cao, đáp ứng đƣợc các yêu cầu về chất lƣợng xuất khẩu và nhu cầu của thị trƣờng Hà Nội. Từ bối cảnh nêu trên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng phân bón và mật độ cấy đến sinh trưởng và năng suất giống lúa thuần Hương Việt 3 tại Ứng Hòa-Hà Nội’’. MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI 1.
Mục đích Xác định đƣợc lƣợng phân bón và mật độ cấy phù hợp nhất để giống lúa thuần Hƣơng Việt 3 đạt năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhất trên chân đất vàn của huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội. Yêu cầu của đề tài Đánh giá đƣợc một số đặc điểm nông sinh học, đặc điểm hình thái, mức độ nhiễm sâu bệnh và năng suất của giống lúa thuần Hƣơng Việt 3 ở các mật độ cấy, lƣợng phân bón khác nhau trong vụ xuân và vụ mùa 2017 tại huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT LÖA GẠO TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 2.
Tình hình sản xuất lúa gạo trên Thế giới Lúa là cây trồng đƣợc trồng rộng rãi nhất, là lƣơng thực chính cho 3,5 tỷ ngƣời trên toàn thế giới. Theo thống kê của tổ chức lƣơng thực thế giới FAO có 114 các quốc gia trên thế giới trồng và sản xuất ra 715 triệu tấn gạo mỗi năm, năm 2016 sản lƣợng lúa gạo đạt 751,9 triệu tấn tăng 1% so với năm 2015 (741,8 triệu tấn) và dự báo đạt 758,9 triệu tấn trong năm 2017. Tuy nhiên chỉ 18 nƣớc có diện tích sản xuất lớn hơn 1.000 ha và đều tập trung ở Châu Á bao gồm Ấn Độ, Trung Quốc, Indonesia, Bangladesh, Thái Lan, Myanmar, Việt Nam, Philippines.chiếm 89,7% diện tích lúa toàn thế giới. Các khu vực có mức nghèo đói lớn ở Nam Á, một phần của Đông Nam Á và Châu Phi sử dụng đất nông nghiệp ở vùng đất thấp để sản xuất ra 20% gạo trên thế giới, vùng cao và đất khô sản xuất ra 4% sản lƣợng gạo trên toàn thế giới.
1: Diện tích, năng suất và sản lƣợng lúa gạo trên thế giới từ 2010 - 2016 Năm Diện tích Năng suất Sản lƣợng (triệu ha) (tấn/ha) (triệu tấn) 2010 161,68 4,34 701,12 2011 162,72 4,46 726,38 2012 162,19 4,54 736,26 2013 164,53 4,51 741,99 2014 162,91 4,56 742,43 2015 160,76 4,60 740,08 2016 159,81 4,64 740,96 Nguồn: Số liệu thống kê FAOSTAT (2017) Sản lƣợng lúa gạo tại châu Á chiếm tới 90,4% toàn thế giới, tức là 677,7 triệu tấn. Tỷ lệ này vẫn đang liên tục tăng vì vấn đề dân số gia tăng ở khu vực này. Theo thống kê, sản lƣợng lúa gạo cao chủ yếu nhờ sản lƣợng tăng mạnh tại Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Pakistan và Việt Nam. Sản lƣợng lúa gạo tại Châu Phi đạt 28,7 triệu tấn, tăng 0,8% so với sản lƣợng năm 2014.
Sản lƣợng tăng tại các nƣớc Tây Phi đã bù đắp những thiếu hụt do sự suy giảm tại một nƣớc ở Đông và Nam Phi. 3 Tại vùng trung Mỹ và Caribe sản lƣợng lúa gạo duy trì ở mức ổn định 3 triệu tấn. Vùng nam Mỹ sản lƣợng lúa gạo đạt 25,4 triệu tấn năm 2015 tăng 2,7% so với cùng kỳ năm 2014. Sản lƣợng lúa gạo tại châu Âu giữ ở mức ổn định đạt 4.
Theo nhƣ số liệu trên bảng diện tích tăng đều từ năm 2010 - 2013 từ 161,68 - 164,53 triệu ha, nhƣng từ năm 2014 - 2016 diện tích lúa gạo giảm xuống và thấp nhất là 159,81 triệu ha năm 2016. Năng suất lúa gạo trên thế giới tuy không giảm qua các năm nhƣng không tăng mạnh. Sản lƣợng lúa gạo tăng dần từ 701,12 - 742,43 triệu tấn từ năm 2010 đến 2014, nhƣng lại giảm xuống 740,96 vào năm 2016. Nhƣ vậy, diện tích trồng lúa giảm cũng phần nào làm cho sản lƣợng lúa gạo cũng giảm, còn năng suất tuy không giảm nhƣng tăng chậm qua các năm.
Hiện nay khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, tìm ra đƣợc những giống có khả năng thích nghi với điều kiện khí hậu biến đổi, sự đa dạng của sâu bệnh, diện tích trồng ngày càng giảm. và cho năng suất, chất lƣợng tốt nhằm đáp ứng nhu cầu cho con ngƣời trên toàn cầu. Tình hình sản xuất lúa gạo ở Việt Nam Việt Nam là một nƣớc nhiệt đới gió mùa, lƣợng bức xạ mặt trời cao rất phù hợp cho sự phát triển của cây lúa, đất đai phù sa đƣợc bồi đắp tƣơng đối bằng phẳng từ Bắc đến Nam (Đồng bằng Sông Hồng, Đồng bằng Sông Cửu Long. Vì vậy có thể nói Việt Nam là cái nôi của sự hình thành cây lúa.
Ngƣời dân Việt Nam có truyền thống trồng lúa nƣớc từ xa xƣa kết hợp với sự tiến bộ của khoa học hiện đại làm tăng sản lƣợng đi đôi với chất lƣợng của lúa góp phần làm tăng lƣợng gạo dự trữ của thế giới. Dựa vào chính sách đổi mới của đảng và nhà nƣớc song song với sự phát triển không ngừng của khoa học và kỹ thuật trong việc chọn tạo ra những giống lúa mới cho năng suất cao, thay đổi cơ cấu mùa vụ, tận dụng và cải tạo đất. Sự nghiên cứu và đổi mới không ngừng Việt Nam đã giải quyết đƣợc an ninh lƣơng thực cho 86,5 triệu dân và đƣa Việt Nam đứng trong hàng ngũ 10 nƣớc xuất khẩu gạo hàng đầu trên thế giới đạt 4,5 triệu tấn (năm 2007). Kết quả nhảy vọt về năng suất lúa trong thập kỷ qua, Việt Nam đã trở thành nƣớc xuất khẩu gạo đứng thứ 3 trên thế giới và trở thành nƣớc dẫn đầu trong ngành xuất khẩu gạo vào năm 2012.
Theo thống kê của FAO (2009) với diện tích trồng lúa khoảng 7,4 triệu ha đã giúp Việt Nam trở thành nƣớc đứng thứ 7 trong các nƣớc có diện tích trồng lúa nhiều ở Châu Á và đứng thứ 24 trên thế giới với năng suất lúa khoảng 5,2 tấn/ha. Diện tích, năng suất, sản lƣợng lúa ở Việt Nam giai đoạn 2006- 2015 Nguồn: Tổng cục thống kê năm (2016) Theo nhƣ bảng thống kê về diện tích nhận thấy rằng: năm 2007 diện tích trồng lúa giảm từ 7,32 triệu ha (năm 2006) xuống còn 7,21 triệu ha, nhƣng từ năm 2008 đến 2013 thì diện tích trồng lúa đã tăng dần theo năm và cao nhất vào năm 2013 đạt 7,9 triệu ha. Tuy nhiên diện tích trồng đang có xu hƣớng giảm và chƣa ổn định. Sản lƣợng và năng suất lúa ở Việt Nam tăng đều qua các năm.
Đó là thành quả của việc áp dụng các khoa học kỹ thuật, các quy trình trồng và chăm sóc hợp lý vào nông nghiệp cho ra nững giống lúa có năng suất, chất lƣợng cao, khả năng chịu sâu bệnh và điều kiện thời tiết khắc nhiệt góp phần nâng cao năng suất và sản lƣợng lúa gạo của Việt Nam nói riêng và của thế giới nói chung. Một số thành tựu nghiên cứu lúa của Việt Nam Những thành tựu nghiên cứu của các nhà khoa học hiện nay đã góp phần rất lớn trong việc nâng cao năng suất và sản lƣợng lúa gạo của nƣớc ta, đem lại giá trị cao cho sản xuất lúa gạo ở hiện tại và trong tƣơng lai. Trong giai đoạn 2001 - 2015, Viện Cây lƣơng thực - Cây thực phẩm đã có kết quả nghiên cứu cơ sở khoa học phục vụ cho công tác chọn tạo giống lúa nhƣ 5 đánh giá đa dạng di truyền của tập đoàn công tác, nghiên cứu quy luật di truyền của một số tính trạng quan trọng ở cây lúa, thu thập 2.856 mẫu giống lúa địa phƣơng và nhập nội có nhiều gen quý, tạo 8.456 vật liệu khởi đầu bằng nhiều phƣơng pháp, đã chọn 11.997 dòng theo hƣớng lúa chống chịu điều kiện khó khăn, lúa chất lƣợng cao.