ĐẶT VẤN ĐỀ Cây Lạc (Arachis hypogaea.) là cây công nghiệp ngắn ngày có tác dụng rất nhiều mặt và là cây có giá trị kinh tế cao. Sản phẩm của nó cung cấp thực phẩm cho con người, thức ăn cho gia súc gia cầm, nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến, y học. Ngoài ra, lạc còn là cây trồng ngắn ngày rất thích hợp trong luân canh, xen canh, gối vụ với nhiều loại cây trồng khác và là cây trồng cải tạo đất rất tốt. Thành phần dinh dưỡng trong hạt lạc rất cao, với hàm lượng lipit từ 40- 50%, protein từ 25 - 30%, ngoài ra trong hạt lạc chứa đến 8 axit amin không thay thế và nhiều loại vitamin khác nên lạc có khả năng cung cấp năng lượng rất lớn.
Chính vì vậy mà lạc được coi là nguồn thực phẩm cung cấp protein hoàn chỉnh cho con nguời và cho gia súc. Ngoài ra trong hạt lạc còn có nhiều loại vitamin như PP, B, E, F, đặc biệt là vitamin B1, B2 và B3. Cây lạc còn có tác dụng cải tạo đất, góp phần tăng năng suất các cây trồng khác. Điều này có được là do hoạt động cố định N2 của loài vi khuẩn Rhizobium vigna cộng sinh trên rễ cây họ đậu.
Thân lá lạc được dùng làm thức ăn cho gia súc và làm phân xanh cải tạo đất rất tốt. Các nghiên cứu cho thấy, sau mỗt vụ trồng lạc đã cố định và bổ sung vào đất từ 60 - 80 kg N/ha, tương đương 300 - 400 kg đạm Sulphát. Trong lĩnh vực y học, lạc là cây thực phẩm có hàm lượng cholesterone thấp nên việc sử dụng các sản phẩm từ lạc sẽ làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Hạt lạc có tác dụng rất tốt cho tim, gan, thận, dạ dày và ruột.
Prôtêin lạc dễ tiêu hóa hơn prôtêin thịt và không có các dạng axit uric nên tốt trong việc chữa bệnh suy dinh dưỡng trẻ em và người già. Ngoài ra, chất lixithin trong lạc có tác dụng làm cơ thể trẻ lâu, sung sức, tăng trí nhớ, tái sinh các mô, làm cứng xương và tăng sức đề kháng của cơ thể. Với giá trị cao như vậy nên cây lạc là cây trồng quan trọng cùng với lúa mỳ, lúa nước, ngô, cao lương và đậu tương. Ở Việt Nam, lạc được gieo trồng phổ biến trên cả 7 vùng sinh thái trong cả nước.
Trong đó, vùng Đồng bằng Sông Hồng có diện tích gieo trồng lạc là 23,9 nghìn ha (theo Tổng cục Thống kê 2016); Các tỉnh sản xuất lạc khá trong vùng gồm: Hà Nội (3,7 ngàn ha), Nam 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Năng suất trung bình đạt 26,2 tạ/ha, bằng 112,7% so với năng suất cả nước. Tuy nhiên, co với các vùng khác như Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long thì năng suất của vùng còn khá thấp. Có nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến năng suất lạc của Đồng bằng sông Hồng như chưa có bộ giống tốt, phù hợp, các biện pháp kỹ thuật canh tác, loại phân bón… Trong các yếu tố hạn chế trên thì giống và phân bón là yếu tố cản trở chính đến năng suất lạc.
Nghiên cứu chọn tạo giống lạc là một trong những biện pháp quan trọng hàng đầu làm tăng năng suất, chất lượng lạc từ đó tăng giá trị kinh tế, nâng cao thu nhập cho người dân. Mục tiêu của công tác chọn tạo giống lạc là cần chọn ra những giống lạc có năng suất cao, phẩm chất, khả năng chống chịu tốt, thâm canh và cơ giới hóa cao. Một trong những khâu quan trọng trong quá trình chọn tạo các giống, so sánh giống lạc để đưa ra cái nhìn tổng quan về đặc điểm nông sinh học, sự khác biệt về năng suất cũng như những ưu, nhược điểm giữa các giống lạc giúp cho các nhà nghiên cứu, chọn tạo có đầy đủ tư liệu cần thiết khi đưa ra những giống lạc đạt tiêu chuẩn để sản xuất đại trà phù hợp với những điều kiện sinh thái của từng vùng, từng địa phương. Ngoài ra, phân bón hữu cơ là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng của cây trồng nói chung và cây lạc nói riêng.
Ngày nay, ở Việt nam việc chăn nuôi theo từng hộ cá nhân giảm đi rất nhiều và nông dân đã chuyển dần sang chăn nuôi theo hướng tập trung, chăn nuôi theo quy mô trang trại. Chính vì thế, mà lượng phân chuồng ngày nay giảm đi rất nhiều,nhiều nơi không còn sử dụng phân chuồng nữa. Tỉnh Ninh Bình là tỉnh nằm trong vùng Đồng bằng sông Hồng người dân có kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp từ xa xưa trong số đó có cây lạc. Tất cả các huyện, thành phố của Ninh Bình đều có diện tích gieo trồng lạc, trong đó tập trung chủ yếu ở các huyện: Yên Mô, Yên Khánh, Nho Quan, Kim Sơn… Nhưng hiện nay người nông dân trong tỉnh vẫn gieo trồng những giống lạc truyền thống như L14, L08, L12.
và không sử dụng phân chuồng hoặc phân vi sinh mà chỉ sử dụng phân đơn N, P, K. Do đó dẫn đến năng suất và chất lượng các giống lạc thường không cao. Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu xác định giống và ảnh hưởng của một số loại phân bón hữu cơ đến cây lạc vụ đông tại Yên Mô, Ninh Bình”. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Mục tiêu chung Nghiên cứu đề tài nhằm xác định được một số giống lạc cho năng suất cao và loại phân hữu cơ thích hợp trong điều kiện vụ Đông tại huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Mục tiêu cụ thể - Xác định các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển và năng suất một số giống lạc tại huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. - Xác định ảnh hưởng của công thức bón phân hữu cơ đến sinh trưởng, phát triển và năng suất đối với hai giống lạc L18 và L27. PHẠM VI NGHIÊN CỨU Đề tài tập trung nghiên cứu sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của các giống lạc: L14, L08, L15, L18, L26, L27, MD7 trong điều kiện vụ Đông tại xã Yên Thái, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình.
Đề tài giới hạn nghiên cứu ảnh hưởng của 04 loại phân hữu cơ đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của 2 giống lạc L18 và L27 trong điều kiện vụ Đông tại xã Yên Thái, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp dẫn liệu khoa học về xác định loại giống và phân bón hữu cơ phù hợp với điều kiện thâm canh của cây lạc. Ý nghĩa thực tiễn Việc xác định được giống và loại phân bón hữu cơ phù hợp đối với cây lạc sẽ góp phần làm tăng năng suất và hiệu quả kinh tế trong sản xuất thâm canh của cây lạc.
3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT LẠC TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 2. Tình hình sản xuất lạc trên thế giới Cây lạc mặc dù xuất hiện từ rất lâu nhưng vai trò kinh tế của cây lạc mới chỉ được xác định trên 100 năm trở lại đây.
Vào giữa thế kỷ XVIII, sản xuất lạc trên thế giới cũng mới chỉ mang tính tự cung tự cấp cho từng vùng. Nhưng đến nay, nhu cầu dành cho sử dụng và tiêu thụ lạc ngày càng lớn, triển vọng của thị trường dành cho lạc cũng rất khả quan. Điều này là cơ hội thúc đẩy các nước đầu tư phát triển sản xuất lạc ngày càng tăng, không chỉ về diện tích sản xuất mà năng suất và sản lượng lạc của thế giới cũng ngày càng được cải thiện so với trước đây. Tình hình sản xuất lạc trên thế giới trong thập niên 80 đều tăng so với thập niên 70 của thế kỷ XX.
Năng suất lạc tăng 0,15 tấn/ha, sản lượng tăng gần 3 triệu tấn, nhu cầu sử dụng lạc tăng 2,8 triệu tấn so với thập niên 70. Giữa hai thập niên 70 và 80 diện tích lạc thế giới chỉ tăng khoảng 88,6 nghìn ha nhưng do năng suất lạc tăng nên sản lượng tăng lên đáng kể đạt 18,8 triệu tấn. Theo thống kê của FAO, từ năm 2004 đến nay diện tích, năng suất và sản lượng lạc của thế giới có sự biến động không đáng kể dao động từ 23,70 triệu ha đến hơn 26 triệu ha, năm 2006 diện tích trồng lạc thấp nhất 21,52 triệu ha; cao nhất vào năm 2014 với 26,54 triệu ha và đang có xu hướng tăng lên dần đều. Ngược lại với diện tích, năng suất lạc ngày càng tăng nhờ áp dụng những tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất.
Năng suất lạc trung bình trong những năm 80 là 11,0 tạ/ha, năm 90 là 11,5 tạ/ha, từ năm 2000 đến nay năng suất ổn định 14,4 tạ/ha, tăng so với năm 80 là 30,9%, năm 90 là 25,2%. Cùng với sự gia tăng về năng suất, sản lượng lạc thế giới cũng tăng lên, đạt cao nhất là 45,22 triệu tấn (năm 2013) và sau đó giảm xuống cùng với sự tụt giảm năng suất, sản lượng lạc năm 2014 đạt: 43,91 triệu tấn. Trên thế giới, lạc được phân bố tập trung ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới, trong khoảng 400 Bắc đến 400 Nam (Vũ Công Hậu và cs. Diện tích, năng suất, sản lượng lạc giữa các khu vực có sự biến động đáng kể.
Nhiều khu vực có diện tích trồng lạc lớn song năng suất lại tương đối thấp. Khu vực Bắc Mỹ tuy có diện tích trồng lạc không nhiều (820-850 nghìn ha) nhưng lại là vùng có năng suất cao nhất (20,0-28,0 tạ/ha). 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Diện tích, năng suất và sản lượng lạc toàn thế giới trong những năm gần đây Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (triệu ha) (tấn/ha) (triệu tấn) 2004 23,70 15,37 36,45 2005 24,03 16,02 38,52 2006 21,52 15,89 33,30 2007 22,65 16,38 37,12 2008 24,21 15,89 38,50 2009 23,97 15,49 37,14 2010 25,47 16,77 42,72 2011 24,74 16,40 40,57 2012 24,59 16,46 40,47 2013 25,44 17,77 45,22 2014 26,54 16,54 43,91 Nguồn: Faostart (2014) Trong khi đó Châu Phi diện tích trồng lạc khoảng 6.000 ha nhưng năng suất chỉ đạt 7,8 tạ/ha, (Ngô Thế Dân và cs.
Châu Á có diện tích trồng lạc lớn nhất thế giới (chiếm 60% diện tích trồng và 70% sản lượng lạc trên thế giới - năm 2005). Trong đó, diện tích khu vực Đông Á tăng mạnh nhất từ 2,0 triệu ha lên 3,7 triệu ha, khu vực Đông Nam Á tăng 15,5%, Tây Á tăng 14,1%. Nhờ có sự nỗ lực của các quốc gia đầu tư, nghiên cứu áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật nên năng suất lạc tăng nhanh, tăng từ 14,5 tạ/ha năm 90 lên 18,28 tạ/ha năm 2009.