Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Nguồn gốc, phân loại cây trầu bà dé vương đỏ Cây trầu bà hay còn được biết với cái tên: cây trầu bà xanh, cây Hoàng Tâm Diệp. Loại cây này có nguồn góc từ dao Solomon, tên khoa học là Epipremnum aureum, thuộc họ Araceae. Thế giới trầu bà kha đa dạng cả về màu sắc lẫn hình thái. Các loại cây trầu bà hiện nay trên thi trường có rất nhiều chủng và trau bà dé vương là một loại điển hình về vẻ đẹp cũng như công dụng nhiều.
Thông thường người ta phân chia cây trầu bà dé vương theo màu sắc. Các loại cây trau bà dé vương tiêu biểu gồm: cây trầu bà dé vương xanh, cây trầu bà dé vương đỏ, cây trầu bà dé vương vàng, trầu bà dé vương tím, trầu bà dé vương sọc. Mỗi loại cây đều có nét đẹp và ý nghĩa phong thủy riêng. Trong đó trầu bà đế vương đỏ (Philodendron erubescens) hay còn có những tên khác như: dé vương đỏ, đại dé vương đỏ, trầu bà đỏ là lựa chọn quen thuộc để làm cây phong thủy, cây cảnh văn phòng và nhà ở (trích dan bởi Nguyễn Huỳnh Hoa, 2021).
Phân loại cây trầu ba dé vương đỏ Giới (regnum) Plantae (không phân hạng) Angiospermae (không phân hang) Monocots Bộ (ordo) Alismatales Ho (familia) Araceae Chi (genus) Philodendron Loai (species) Philodendron erubescens Tén khoa hoc Philodendron erubescens “Imperial Red” 3 Tên gọi chung Philodendron Imperial Red 1.2 Đặc điểm thực vật học của cây trầu bà dé vương đỏ Trau bà đế vương đỏ (Philodendron erubescens) là loài cây thân thảo, thuộc họ Ráy (Araceae), được tìm thấy ở đảo Solomon, Indonesia. Trên thân cây thường có nhiều rễ sống, trong tự nhiên cây có thể leo cột nhưng khi trồng trong chậu và cây làm cảnh thì những chiếc lá sẽ vươn thắng và cây đạt chiều cao tối đa là 1,5 m. Lá cây thường dạng hình tim, thuôn dài về phía đầu lá và lá non thường có màu đỏ tia, cuống lá dai màu đỏ đậm. Và với cây trầu bà dé vương đỏ thì có thé trồng vào chậu hoặc trồng thủy sinh để cây leo cộng sinh trên các cây khác đều được.
Khi còn non, cây bắt đầu phát triển những chiếc lá hình bầu dục có màu đỏ tươi. Khi chúng lớn lên, những chiếc 14 sam màu dan theo tuổi thành màu xanh ngọc lục bảo. Nhưng khi trưởng thành hoàn toàn, chúng lại chuyển sang màu đỏ hạt dẻ. Khi cây Trầu Bà Đề Vương Đỏ ra hoa thì nở thành từng cụm hoa trắng ngà, có mo hoa bao bọc bên ngoài (Dương Công Đông, 2019).2 Giới thiệu về nuôi cấy mô tế bào thực vật 1.1 Lich sử phát triển nuôi cấy mô tế bào thực vật ở ngoài nước Theo Nguyễn Đức Lượng (2006), lich sử nuôi cấy mô tế bao thực vật gắn liền với các sự kiện nồi bật như sau: Năm 1902, Haberlandt là người đầu tiên đưa các giả thuyết về tính toàn năng của tế bào vào thực nghiệm.
Theo ông, tất cả tế bào thực vật đều có tính toàn năng, mỗi tế bảo đều mang một lượng thông tin di truyền đầy đủ của cơ thể và khi gặp điều kiện thuận lợi thì có thé phát triển thành một cơ thể hoàn chỉnh. Tuy nhiên, ông đã dùng tế bào quá chuyên biệt nên không thành công. Năm 1922, Kotte và Robbins thực hiện lại thí nghiệm của Haberlandt và đã thành công trong nuôi cấy đỉnh sinh trưởng từ đầu rễ một cây hòa thảo. Năm 1934, White (Hoa Kỳ) đã nuôi cấy thành công trong một thời gian dài đầu rễ cây cà chua trên môi trường lỏng có chứa muối khoáng, đường và dịch chiết nắm men.
Ở các thí nghiệm tiếp theo, White chứng minh có thê thay thế dịch chiết nắm men 4 bằng hỗn hợp 3 loại vitamin nhóm B. Thiamin (B1), Pyridoxin(B) và Nicotinic acid. Từ đó, việc muôi cấy đầu rễ trong thời gian vô hạn đã được tiến hành ở nhiều cây khác nhau. Sau đó ít lâu, Went và Thimann phát hiện ra chất điều hòa sinh trưởng đầu tiên là IAA (Indol acetic acid).
Năm 1939, cùng với Nobercourt, Gautheret đã thành công trong việc duy tri sự sinh trưởng trong thời gian dài của mô sẹo cà rốt (Daucus carota) trên môi trường rắn bằng thạch. Năm 1955, Skoog tìm ra chất điều hòa sinh trưởng trong tinh dịch cá bẹ là 6 — Furfurylaminopurine và đặt tên là Kinetin, có tác dụng kích thích sự phân bào. Việc phát hiện vai trò cua NAA, IAA, 2,4D và Kinetin cùng với phát hiện vai trò của các vitamin và nước dừa là một bước tiến quan trọng, đây là tiền đề kỹ thuật cho việc xây dựng các môi trường xác định về mặt hoá học, cho việc làm các thí nghiệm ồn định và dẫn đến những thành công tiếp theo của ngành khoa học này. Năm 1957, Skoog và Miller công bố các kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của tỷ lệ kinetin/auxin trong môi trường nuôi cấy đối với sự hình thành cơ quan của mô sẹo thuốc lá.
Khi giảm thấp tỷ lệ kinetin/auxin, mô sẹo có khuynh hưởng phát triển rễ. Ngược lại thì dẫn đến khuynh hướng tạo chéi ở mô sẹo. Hiện tượng này được xác nhận trên nhiều cây khác nhau và đóng góp rất lớn vào sự điều khiến sinh trưởng, phát triển của mô tế bảo trong nuôi cấy. Từ 1954 đến 1959, kỹ thuật tách và nuôi cấy tế bào đơn đã được phát triển.
Muir, Hildebrandt và Riker đã tách các tế bào của mô sẹo thành các tế bào đơn bằng cách sử dụng máy lắc. Năm 1960, Bergman công bồ có thé dùng phương pháp lọc đơn giản dé thu được hầu hết là tế bào đơn mà không phải là dính cụm. Các tế bào đơn có thể gieo trên môi trường, tiếp tục phân chia và tái tạo lại mô sẹo. Cùng với kỹ thuật gieo tế bào của Bergman, nhiều tác giả khác đã thành công trong việc tạo cây hoàn chỉnh từ tế bào, chứng minh được tính toàn thể của tế bào.
Năm 1960, Cooking (Anh) công bố có thể dùng men cellulose để phân hủy và cellulose của tế bào thực vật, kết quả thu được các tế bào tròn không vỏ bọc, gọi là protoplast. Đầu những năm 1970, Nagati và Takebe (Nhật) thành công trong việc làm cho các protoplast tach từ mô thuốc lá tái tạo và cellulose, phân chia, tạo nên một quan thé tế bào trong môi trường lỏng. Do các protoplast có khả năng dung hợp với nhau trong các điều kiện nhất định và hấp thụ các phân tử lớn hoặc thậm chí từ các cơ quan phân tử từ bên ngoài. Các nhà nuôi cây mô thực vật đặt hy vọng lớn vào kỹ thuật protoplast dé chọn giống có kết qua hơn.
Năm 1965, Ledoux và ctv đề xướng về vấn đề biến tính của tế bào. Ông cho rằng các tế bào có khả năng hấp thụ DNA ngoại lai vào, gây nên sự biến tính ở thực vật. Từ 1980 đến 1992, có nhiều các thành công mới trong lĩnh vực công nghệ gene thực vật được công bó, hàng loạt các công trình chuyền gene ngoại lai vào nhiều họ thực vật. Khả năng nhân giống và phục tráng cây trồng được thể hiện rõ rệt trong những ứng dụng nuôi cấy mô thực vật.
Theo Morel (1960), đã nhận thay đỉnh sinh trưởng của các loại địa lan (Cymbidium) khi đem nuôi cây sẽ hình thành các protocorm. Khi chia cắt các protocorm và nuôi cay tiếp thi thu được các protocorm mới. Khi để trong các điều kiện thích hợp nhất định thi protocorm có thé phát triển thành cây lan con. Do đó, có thể phục trang, tạo ra các dòng vô tinh không bi nhiễm virus.
Kỹ thuật này đặc biệt có giá trị đối với các cây như: khoai tây, cây ăn quả và nhiều cây nhân giống vô tính khác. Hiện nay, đang bước vào giai đoạn nuôi cấy mô thực vật được ứng dụng và phát trién mạnh mẽ trong việc nhân giống, chon tạo giống vào việc sản xuất các chat thứ cap có hoạt tính sinh học và vào nghiên cứu lý luận di truyền thực vật bậc cao. Nuôi cay mô thực vật hiện nay được đưa vào trong các chương trình chọn giống, nhân giống hiện đại (Nguyễn Văn Uyên, 1993).2 Lich sử phát triển nuôi cấy mô thực vật ở trong nước Theo Trần Văn Minh (2005), sau năm 1975, nước ta mới bắt đầu chú trọng đến kỹ thuật nuôi cấy mô thực vật. Phòng thí nghiệm nuôi cấy mô tế bào đầu tiên được xây dựng tại Viện Sinh Học.
Viện Khoa Học Việt Nam do Lê Thị Muội khởi xưởng. Bước đầu phòng tập trung nghiên cứu các phương pháp nghiên cứu cơ bản trong điều kiện Việt Nam, như nuôi cấy bao phấn, nuôi cấy mô sẹo và protoplast và đã thành công khi nuôi cay bao phan lúa và thuốc lá được công bố vào năm 1978 (Lê Thị Muội và ctv, 1997; Lê Thị Xuân và ctv, 1978). Tiếp đó là thành công nuôi cấy protoplast khoai tây (Lê Thị Muội và Nguyễn Đức Thành, 1978; Nguyễn Đức Thành và Lê Thị Muội, 1980, 1981). Phòng thí nghiệm tiếp theo được đặt tại phân viện Khoa Học Việt Nam ở Tp.
Hồ Chí Minh, sau đó là Đại học Nông Nghiệp I Hà Nội và Viện Khoa Học Kỹ Thuật Nông Nghiệp Việt Nam, chủ yếu tập trung vào vi nhân giống khoai tây. Đến nay, đã có rất nhiều phòng thí nghiệm nuôi cấy mô không những ở các Viện nghiên cứu (Viện Di Truyền Nông Nghiệp, Viện Rau Quả Trung ương, các Trường Đại học), mà có cả ở một số tỉnh và cơ sở sản xuất (Đà Lạt, Yên Bái, Hưng Yên, Thanh Hóa, Cần Thơ, Nghệ Tĩnh). Từ giữa 1980 đến nay, hướng nghiên cứu ứng dụng nuôi cấy mô tế bao thực vật phát triển mạnh. Nhưng kết quả đáng khích lệ đã đạt được trong lĩnh vực vi nhân giống khoai tây (Viện Công Nghệ Sinh Học, Viện Di Truyền Nông Nghiệp, Viện Lâm Nghiệp).
Một số kết quả bước đầu đã được ghi nhận trong lĩnh vực chọn dòng tế bào kháng bệnh (Lê Bích Thủy và ctv, 1994), chọn dòng chỊu muối, chịu mất nước (Nguyễn Tường Vân và ctv, 1994; Định Thị Tông và ctv, 1994). Các kết quả về dung hợp tế bào trần, chuyền gen lục lạp cũng thu được kết quả lý thú (Nguyễn Đức Thành và ctv, 1993, 1997), Nuôi cấy bao phan dé tạo dong thuần đã được ứng dụng nhiều tại Viện Công Nghệ Sinh Học và Di Truyền Giống Nông Nghiệp. Nuôi cấy các cây được liệu quý dé bảo tồn nguồn gen và tạo các dòng tế bào có hàm lượng sinh học quan trọng cũng đã và đang được phát triển (Bùi Bá Bing, 1995). Không dừng lại ở đó, các công trình nghiên cứu ngày càng đạt được những bước tiến vượt bậc.