Đặt vấn đề Lan Kim Tuyến là một chi thực vật có giá trị làm thuốc, thuộc họ lan (Orchidaceae). Chúng được dùng trong điều trị các chứng bệnh như đau ngực, đau bụng, huyết áp cao, rối loan gan, lá lách, tiéu đường (Nguyễn Tiến Ban, 2005). Các loài thuộc chi lan Kim Tuyến (4zoeefoehiius Blume) hiện nay đang đứng trước môi trường sống bị mat mát và một số van nạn: suy thoái, động vật sử dụng làm thức ăn, việc khai thác một cách bừa bãi và nhu cầu sử dụng ngày càng tăng của con người khiến cho nguồn gen tự nhiên ngày càng suy giảm (Zhang và ctv, 2013). Chi lan Kim Tuyến bị khai thác nhiều để buôn bán làm thuốc từ rất lâu nên lan Kim Tuyến bị đe dọa nghiêm trọng, rất có thể sẽ bị tuyệt chủng ngoài tự nhiên nếu không có biện pháp bảo tồn hữu hiệu.
Hiện nay, lan Kim Tuyến đang được xếp vào nhóm IA, trong nghị định 06/2019/ ND- CP ngày 22/01/2019 nghiêm cấm khai thác vì mục đích thương mại và nhóm thực vật đang nguy cấp (Sách đỏ Việt Nam, 2007). Nhằm bảo tồn và phát triển tai nguyên quý này nhiều đơn vị trong và ngoài nước đang tập trung vào nghiên cứu nhân giống và nuôi trồng lan Kim Tuyến. Ở Việt Nam, lan Kim Tuyến có thê nhân giống bằng phương pháp giâm cành. Mặt khác, với xu hướng nông nghiệp sử dụng công nghệ cao hiện nay thì kỹ thuật nuôi cay mô tế bao thực vật là một trong những phương pháp hiệu quả nhất dé nhân nhanh loài lan Kim Tuyến trong thời gian ngắn mà vẫn đảm bảo chất lượng cây giống.
Nhiều đề tài đã nghiên cứu và xây dựng thành công quy trình nhân giống in vitro cây lan Kim Tuyến. Tuy nhiên, việc nghiên cứu để liên tục cải thiện về môi trường và nâng cao chất lượng cây giống là vấn đề luôn được quan tâm. Vì vậy, trong nghiên cứu này một số chất hữu cơ đã được bồ sung vào môi trường nuôi cấy để xác định ảnh hưởng của chúng lên sự sinh trưởng và phát triển của lan Kim Tuyến nhằm tìm ra chất hữu cơ bố sung phù hợp để nhân giống loại lan dược liệu quý này. Việc bồ sung các chất hữu cơ vào môi trường nuôi cấy của các loại lan đã có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu như là Nguyễn Thị Cúc (2014) nghiên cứu trên cây lan Hai Hồng, Vũ Quốc Luận (2014) nghiên cứu trên cây lan Vân Hài.
Nhờ một lượng nhỏ của các chât hữu cơ này mà sự sinh trưởng và phát triên của nhiêu loại cây trong điêu kiện in vitro đã được cải thiện. Các chất hữu cơ là nguồn bổ sung carbohydrate, amino acid, peptide, vitamin và chất tăng trưởng thực vật không thể thể thiếu trong nuôi cấy nhiều loài thực vật (Thorpe và ctv, 2008). Ngoài các chất hữu cơ được sử dụng trong nghiên cứu này như dịch nghiền chuối, khoai tây, cà rốt, nước dừa thì còn có một số hợp chất hữu cơ khác được phát hiện và bổ sung vào môi trường nuôi cấy như casein, nấm men, pepton, các loại mầm đậu nành, dịch chiết ca chua dé nâng cao hiệu quả nhân giống. Xuất phát từ những giá trị thực tiễn trên, đề tài “ Khảo sát ảnh hưởng của một số hop chất hữu cơ lên quá trình sinh trưởng và phát triển lan Kim Tuyến (Anoectochilus setaceus Blume) in vitro” được thực hiện nhằm góp phần hoàn thiện quy trình nhân giống lan Kim Tuyến in vitro.
Mục tiêu: Xác định được nồng độ riêng lẻ dịch nghiền chuối, khoai tây, ca rốt nước dita thích hợp nhất đến sự sinh trưởng và phát triển chéi lan Kim Tuyến in vitro. Xác định được nồng độ kết hợp dịch nghiền chuối, khoai tây, cà rốt thích hợp nhất đến sự sinh trưởng và phát triển chồi lan Kim Tuyến in vitro. Xác định được nồng độ tảo Spirulina thích hợp đến sự sinh trưởng và phát triển chéi lan Kim Tuyến in vitro. Nội dung thực hiện: Nội dung 1: Khảo sát ảnh hưởng riêng lẻ và kết hợp của chuối, khoai tây, cà rốt, nước dừa lên quá trình sinh trưởng và phát triển chồi lan Kim Tuyến in vitro.
Nội dung 2: Khảo sát ảnh hưởng của tảo Spirulina lên quá trình sinh trưởng và phát triển chồi lan Kim Tuyến in vitro. TONG QUAN TÀI LIEU 2. Tổng quan về cây lan Kim Tuyến 2. Phan loại Phân loại thực vật (Nguyễn Tiến Bân, 2005) Giới : Plantae Bộ : Asparagales Họ : Orchidaceae C77/ Tông : Cranichideae fia * seh as = ———E Hinh 2.
Cay lan Kim Tuyén Loai : Anoectochilus setaceus Nguôn: https://ifrad.vn Lan Kim Tuyén có tên khoa hoc là Anoectochilus setaceus Blume. Ngoài ra, con có các tên gọi khác như Lan Gam, Lan Kim Tuyến tơ. Nguồn gốc và phân bố Lan Kim Tuyến có nguồn gốc từ Hy Lạp, sau đó được du nhập và phô biến ở các nước như Việt Nam, Thái Lan, Trung Quốc. Lan Kim Tuyến là cây được liệu quý hiếm giúp bồi bổ, tăng cường sức khỏe.
Chúng thường mọc ở vách núi, ven sông nơi có nhiệt độ thấp, độ âm cao. Lan Kim Tuyến sinh trưởng rất chậm dưới tán rừng, trên sườn núi đá granit, riolit, phiến sét, ở độ cao 500 — 1600 m, rải rác thành từng nhóm vài ba cây trên đất 4m, rất giàu mun và lá cây rụng. Lan Kim Tuyến là một loài quý hiếm có tên trong Sách Đỏ Việt Nam và Phụ lục IA của Nghị định số 32/2006/CP thuộc nhóm thực vật nghiêm cắm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mai và nhóm thực vật rừng đang nguy cap EN Ala,c,đ, trong sách đỏ Việt Nam (Bộ Khoa học va Công nghệ, 2007). Thành phần hóa học cây lan Kim Tuyến Trong cây lan Kim Tuyến có nhiều hợp chất như nhóm flavonoids (quercetin, isorhamnetin), nhóm steroids, polysaccharides, oligosacharides và đường don, alkaloid va nhiều nguyên tố vi lượng và các khoáng chất.
Ngoài ra, trong lan Kim Tuyến còn có các chất khác với khối lượng rất nhỏ như sterols và một số kim loại như: Canxi, Magie, Sat, Crom, Mangan, Đồng, Strontium. Đặc điểm hình thái Cơ quan sinh dưỡng: khi trưởng thành, các cá thể thuộc loài lan Kim Tuyến mọc trong tự nhiên có dạng thân thảo, mọc trên đất mùn với đặc điểm hình thái như sau: thân lan Kim Tuyến gồm hai phần: thân rễ và thân khí sinh. Thân rễ: nằm ngang sát mặt đất, đôi khi hơi nghiêng, bò dài. Chiều dai từ 5-12 cm, đường kính thân rễ từ 2,5 - 3,5 mm có màu nâu đỏ hoặc xanh trắng, nhẫn, không phủ lông và có từ 3 - 7 gióng.
Thân khí sinh thường mong nước, nhẫn, có phủ lông mềm, màu hồng nhạt hoặc xanh trắng. Thân được bọc bởi các bẹ lá xếp lợp, thường mọc thắng đứng trên mặt đất, ít khi nghiêng. Chiều dài thân khí sinh 3 - 7 em, đường kính 2,5 - 3,5 mm. Thân khí sinh mang nhiều lóng, các lóng có chiều dài khác nhau, mỗi thân có từ 2 - 5 gióng.
Rễ có chiều dài thay đổi từ 1 - 9 cm, được mọc ra từ các mau trên thân rễ, cũng có khi được hình thành từ thân khí sinh. Thường mỗi mau có 1 rễ, đôi khi có thé có vài rễ. Mỗi cây có từ 2 - 9 rễ. Lá: Số lượng lá trên một cây có từ 2 - 6 chiếc, thường gặp là 4.
Lá có bẹ nhẫn, hình máng ôm lay thân. Lá mọc cách, xoắn quanh thân, xoé trên mặt đất. Phién lá hình trứng, mép nguyên, chóp lá tù, gốc lá hình tim; màu nâu đỏ hoặc xanh thẫm ở mặt trên; mặt trên phủ lông nhung mềm óng ánh, mặt dưới nhăn, màu xanh nhạt. Hệ gân lông chim thường có 5 gân gốc nổi rõ các gân phụ, màu đỏ tia ánh kim, mặt đưới lá gân màu xanh.
Kích thước của lá thay đổi, dài 3 - 5 cm, rộng 2 - 4 cm. Các lá trên một cây thường có kích thước khác nhau rõ rệt. Cơ quan sinh sản: cụm hoa mọc ở đầu ngọn thân, dai từ 5 - 20 cm, thường phủ lông màu nâu đỏ, mang từ 4 - 10 hoa. Hoa màu trang, có cánh môi lớn.
Hai bên ria mang từ 6 - 8 râu mỗi bên. Hoa nở vào thang 9 đến tháng 12. Phùng Văn Phê va ctv (2010) đã nghiên cứu đặc điểm hình thái lan Kim Tuyến thu hái tại Vườn Quốc Gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc và Trần Huy Thái cũng mô tả đặc điểm sinh thái, hình thái lan Kim tuyến tại khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha, Tinh Sơn La (Lò Thị Mai Thu, 2021). Giá trị kinh tế và ý nghĩa dược học cây Lan Kim Tuyến Theo y học cô truyền, Lan Kim Tuyến là nguồn dược thảo quý, có giá kinh tế cao, trong đó loài Anoectochilus setaceus Blume thường gặp nhất và có giá trị thương mại cao nhất, gấp hàng chục lần các loài khác (Trần Thị Hồng Thúy và ctv, 2015).
Cây được ứng dụng nhiều trong việc chữa bệnh, có tác dụng tăng cường sức khỏe, khí huyết lưu thông, có tính kháng khuẩn, chữa các bệnh viêm khí quan, tiêu đường, suy nhược than 4 kinh, lao phôi, phong thấp, giúp bổ máu. Chính vi giá trị dược liệu cũng như giá trị kinh tế rất cao (2.000 đồng/kg tươi) mà loại được liệu này bị khai thác quá mức dẫn đến suy thoái. Đỗ Thị Gam (2017), chiết xuất và định lượng flavonoid tổng số từ 3 loài Lan Kim Tuyến của Việt Nam, kết quả cho thấy hợp chất Flavonoid được tích lũy chủ yếu ở lá cây lan Kim Tuyến. Đặc biệt, quercetin và isorhamnetin thuộc nhóm flavonoid có giá trị dược tính cao.
Quercetin đóng vai trò như một chất giúp ngăn ngừa và điều trị ung thư một cách hiệu quả; chất này có chức năng cải thiện sức khỏe tim mạch, làm giảm lượng cholesterol giúp ngăn ngừa sơ vữa động mạch, ngăn ngừa đột quy và một số bệnh liên quan về tim mach. Thanh phan hóa học và vai trò của quercetin, isorhamnetin va ferulic acid trong hỗ trợ nâng cao sức khỏe con người trong lan Kim Tuyến tại Việt Nam thì trong nhóm flavonoid hợp chất isorhamnetin lại có kha năng ngăn ngừa tôn thương các tế bào trong cơ thể, hoạt động như một chất chống oxi hóa mạnh mẽ. Isorhamnetin được coi như một hợp chất chống ung thư nhờ vào khả năng ức chế sự tăng trưởng của tế bao ung thư. Ngoài ra, quercetin cũng là một hợp chất rất tốt dành cho bệnh nhân bị tiêu đường và cao huyết áp.
Với khả năng chống viêm của mình cũng như khả năng làm bền thành mạch chống tai biến mạch máu não. Đây cũng là một hợp chất quý đóng vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa và điều trị bệnh tiểu đường và các biến chứng của bệnh tiêu đường (Lê Đình Chắc, 2019). Các dịch nghiền hữu cơ Một số lượng lớn các chất hữu cơ tự nhiên như: nước dừa, dịch nghiền khoai tây, dịch nghiền chuối, dịch nghiền ca rốt.