Đặt vấn đề Chăn nuôi là ngành có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, đặc biệt đối với Việt Nam là một nước có 2/3 dân số sống bằng nghề nông. Hiện nay, do dân số tăng nhanh và quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ nên diện tích đất canh tác cho nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp. Bên cạnh những tiến bộ khoa học kỹ thuật để nâng cao năng suất và chất lượng cây trồng thì việc chuyển dịch cơ cấu vật nuôi theo hướng mới, tận dụng triệt để mọi tiềm năng vốn có của vùng là hướng đi quan trọng cần được quan tâm. Để thúc đẩy ngành chăn nuôi gia cầm theo hướng phát triển gắn liền với nền kinh tế thị trường, cùng với nhu cầu tiêu thụ trong và ngoài nước, ngoài vấn đề con giống và việc ứng dụng nhiều biện pháp như: Bổ sung kháng sinh, vitamin… vào thức ăn nước uống thì việc sử dụng một số men vi sinh vật có ích dựa trên cơ sở của quá trình lên men đang được sử dụng rộng rãi, đem lại lợi ích tương đối cao cho người chăn nuôi.
Hiện nay ngành chăn nuôi đang khuyến khích phát triển chăn nuôi theo hướng “An toàn sinh học” nhằm đảm bảo an toàn dịch bệnh, chất lượng thịt và sức khỏe người tiêu dùng. Sử dụng chế phẩm sinh học trong chăn nuôi có nhiều ưu điểm vượt trội như: Tăng năng suất, chất lượng, ít dịch bệnh, không gây ảnh hưởng tiêu cực 2 đến sức khỏe con người, vật nuôi, giải quyết tốt môi trường chăn nuôi. Chim cút được coi là vật nuôi có giá trị kinh tế cao, đặc biệt đối với những hộ chăn nuôi vừa và nhỏ, có thể xóa đói giảm nghèo. Với chất lượng thịt thơm ngon, giàu chất dinh dưỡng, khả năng sản xuất thịt cao, giá thành bình quân trên thị trường là 60.000 đồng/kg, chỉ 5 – 6 tuần tuổi đã bắt đầu đẻ trứng và có thể đẻ đến 300 trứng/năm.
Với những đặc tính ưu việt đó, chim cút đang là đối tượng rất được các chủ trang trại và người nông dân chú ý đến. n 2 Để nâng cao số lượng cũng như chất lượng đàn gia súc, gia cầm phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước cũng như xuất khẩu, việc nghiên cứu và đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật áp dụng vào thực tiễn sản xuất là điều hết sức cần thiết. Xuất phát từ yêu cầu thực tế trên, các nhà khoa học Khoa Chăn nuôi thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã nghiên cứu và sản xuất thử nghiệm thành công chế phẩm men vi sinh TUAF – Multibio bổ sung thức ăn nhằm kích thích tiêu hóa và tăng khả năng sinh trưởng, tăng sức đề kháng cho vật nuôi. Để đánh giá hiệu quả của men TUAF – Multibio trước khi sản xuất và áp dụng ở quy mô rộng hơn, được sự nhất trí của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi thú y, giáo viên hướng dẫn, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu thử nghiệm ảnh hưởng của Men TUAF – Multibio trên chim cút nuôi tại trại chăn nuôi gia cầm Khoa Chăn nuôi Thú y – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”.
Mục tiêu và yêu cầu của đề tài - Đánh giá ảnh hưởng của men TUAF – Multibio tới sức sống và khả năng sinh trưởng của chim cút. - Đánh giá ảnh hưởng của men TUAF – Multibio tới khả năng phòng bệnh đường tiêu hóa ở chim cút. Ý nghĩa của đề tài 1.1 Ý nghĩa trong khoa học Kết quả của đề tài góp phần bổ sung thêm những thông tin vào tài liệu học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên ngành chăn nuôi và thú y của các trường đại học Nông Nghiệp.2 Ý nghĩa trong thực tiễn Kết quả của đề tài là cơ sở để khuyến khích người chăn nuôi sử dụng chế phẩm sinh học trong chăn nuôi vì chất lượng sản phẩm và sức khỏe người tiêu dùng. n 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học 2. Giới thiệu chung về probiotic 2. Định nghĩa về probiotic Probiotic là những vi sinh vật như vi khuẩn hay nấm men nếu được đưa vào cơ thể với số lượng được kiểm soát hợp lí sẽ đem lại sức khỏe cho người sử dụng. Ngoài ra, chúng có thể được thêm vào sản phẩm lên men sữa, góp một phần trong việc hình thành sản phẩm lên men, hoặc được bổ sung dưới dạng bột đông khô.
Từ "probiotic" được bắt nguồn từ Hy Lạp, có nghĩa là "dành cho cuộc sống". Probiotic là những vi sinh vật như vi khuẩn hay nấm men mà có thể thêm vào thực phẩm với mục đích điều chỉnh quần thể sinh vật đường ruột của sinh vật chủ (Parker, 1974) [16]. Van De Kerkove (1979), Barrows và Deam (1985), Lestradet (1995) cùng cho rằng probiotic được sử dụng như một liệu pháp trong việc chữa trị bệnh tiêu chảy hay như là cách phòng bệnh ở người và động vật để giảm đến mức tối thiểu sự phát tán của vi sinh vật đường ruột, sự kháng lại liệu pháp sinh học và sự di căn của chứng viêm dạ dày ruột. Probiotic cũng được nhận thấy là có những ảnh hưởng có lợi trên sức khỏe của sinh vật chủ (Fuller, 1989) [14].
Năm 1992 Havenaar đã mở rộng định nghĩa về probiotic: Probiotic được định nghĩa như là sự nuôi cấy riêng lẻ hay hỗn hợp các vi sinh vật sống mà có ảnh hưởng có lợi cho sinh vật chủ bằng cách cải thiện những đặc tính của vi sinh vật bản địa. Cơ chế hoạt động của probiotic Trong đường ruột của động vật, probiotic là nhóm vi khuẩn có lợi, hoạt động theo nhiều cơ chế khác nhau: n 4 * Loại trừ, cạnh tranh: Nghĩa là cạnh tranh bám vào màng nhầy thành ruột, qua đó tạo nên một hàng rào vật lý bảo vệ sự tấn công của các vi khuẩn gây bệnh (Nguyễn Thị Thúy Hiền, 2010) [4]. * Kháng khuẩn và kích thích hệ thống miễn dịch: Các probiotic sản xuất ra hoạt chất kháng khuẩn và men kích thích hệ thống miễn dịch, ngăn cản sự phát triển của các vi khuẩn gây bệnh bằng cách sinh axit béo, peroxide và các kháng sinh. In vitro, các vi khuẩn lactic ngăn cản sự phát triển của Staphylococcus, Shigella, Klebsiella, Proteus, Pseudomonas, Salmonella và các chủng E.coli gây bệnh.
Vi sinh vật probiotic làm giảm số lượng vi khuẩn gây bệnh để ngăn chặn các mầm bệnh bằng cách tiết ra các chất kháng khuẩn ức chế cả vi khuẩn Gram dương và Gram âm. Đó là các axit hữu cơ như: Axit lactic, axit axetic. Những hợp chất này có thể làm giảm không chỉ những sinh vật mang mầm bệnh mà còn ảnh hưởng đến sự trao đổi chất của vi khuẩn và sự tạo ra các độc tố. Điều này được thực hiện bằng cách giảm pH khoang ruột thông qua sự tạo ra các axit béo chuỗi ngắn dễ bay hơi, chủ yếu là axetate, propionate, butyrate, nhất là axit lactic.
Probiotic như là phương tiện để phân phát các phân tử kháng viêm cho đường ruột, đẩy mạnh sự báo hiệu cho tế bào chủ để làm giảm đáp ứng viêm, tạo đáp ứng miễn dịch. Vi khuẩn probiotic có khả năng huy động các tế bào miễn dịch, hoạt hóa các đáp ứng miễn dịch thích hợp nhờ một cơ chế phức tạp bắt đầu bằng sự tương tác giữa tế bào probiotic và tế bào của hệ miễn dịch. * Tăng cường tiêu hóa thức ăn: Vi khuẩn lactic sản xuất vitamin nhóm B và các enzyme phân giải protein, lipit và chuyển hóa đường lactose trong sữa thành axit lactic, ngăn ngừa chứng tiêu chảy do không dung nạp đường lactose trong sữa. * Giảm cholesterol: Nhiều kết quả cho thấy, vi khuẩn lactic có tác dụng làm giảm cholesterol trong máu.
Nguyễn Thị Thúy Hiền (2010) [4] cho biết vi n 5 khuẩn lactic phân lập từ phân lợn có khả năng phân hủy cholesterol trong môi trường nuôi cấy. Các báo cáo cho thấy nồng độ cholesterol trong máu thấp ở những con lợn được nuôi có bổ sung các chủng vi khuẩn lactic được phân lập trên. * Tác dụng trên biểu mô ruột: Vi sinh vật probiotic có khả năng bám dính tốt lên tế bào biểu mô ruột, cạnh tranh nơi cư trú với các vi sinh vật gây bệnh và cạnh tranh dinh dưỡng. Do đó, chúng có khả năng giảm kích thích bài tiết và những hậu quả do phản ứng viêm của sự lây nhiễm vi khuẩn, cũng như đẩy mạnh sự tạo ra các dòng phân tử phòng vệ như chất nhầy.
* Tác dụng đến hệ vi sinh vật đường ruột: probiotic điều chỉnh thành phần của vi khuẩn đường ruột. Khi tập trung ở khoang ruột, chúng tạo nên sự cân bằng tạm thời của hệ sinh thái đường ruột sự thay đổi này được nhận thấy một vài ngày sau khi bắt đầu tiêu thụ thực phẩm có probiotic, phụ thuộc vào công dụng và liều lượng của giống vi khuẩn. Kết quả chỉ ra rằng với sự tiêu thụ thường xuyên, vi khuẩn định cư một cách tạm thời trong ruột, một khi chấm dứt sự tiêu thụ thì số lượng vi sinh vật probiotic sẽ giảm xuống. Điều này đúng cho tất cả các loại probiotic.
Vi khuẩn probiotic điều hòa hoạt động trao đổi chất của sinh vật đường ruột. Probiotic có thể làm giảm pH của bộ phận tiêu hóa và có thể theo cách đó sẽ gây cản trở cho hoạt động tiết ra enzyme của sinh vật đường ruột. Probiotic định cư ở ruột với những vi khuẩn có lợi và loại trừ bệnh gây ra bởi các vi sinh vật như: E.coli, Salmonella và Clostridium ở những vị trí lông nhung của ruột non, nơi mà vi khuẩn có hại sẽ phá hủy lông nhung. Probiotic gia tăng sự kháng bệnh bằng cách tăng nhiệt độ cao của lông nhung và tăng độ sâu của các khe nằm giữa lông nhung, theo cách đó sẽ gia tăng được diện tích bề mặt hấp thu chất dinh dưỡng.
Vì vậy, vật nuôi sẽ gia tăng hiệu quả hấp thụ thức ăn. n 6 Những nhà khoa học từ Viện nghiên cứu thực phẩm ở Norwich (nước Anh) báo cáo là những probiotic đặc biệt có thể tiêu diệt mầm bệnh vi khuẩn sống ở ruột gia cầm, do đó giúp loại bỏ mối đe dọa sự ngộ độc thực phẩm vi khuẩn từ chuỗi thức ăn (Nguyễn Thị Thúy Hiền, 2010) [4]. Vi sinh vật đóng vai trò là probiotic Lactobacillus: là trực khuẩn Gram (+) không sinh bào tử. Vi khuẩn có dạng hình que hay hình cầu.
Thuộc dạng hiếu khí hay kị khí, ưa axit. Xếp riêng lẻ hoặc thành chuỗi. Môi trường sống chủ yếu trên chất nền chứa carbohydrate (lớp chất nhầy của người và động vật, chất thải và thực phẩm lên men hay hư hỏng). Lactobacillus là vi khuẩn Gram dương, tạo axit lactic, tạo thành một phần chính của vi khuẩn đường ruột thông thường ở người và động vật.