Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm men lacto sống đến khả năng sản xuất của gà broiler ross 308 tại xã phấn mễ huyện phú lương tỉnh thái nguyên

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu tác động của chế phẩm men lacto sống lên năng suất gà broiler Ross 308 tại Phấn Mễ, Phú Lương, Thái Nguyên.

Chuyên ngành

Chăn nuôi Thú y

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

2015

69
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

1. PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1.1. Mục tiêu của đề tài

1.2. Ý nghĩa của đề tài

2. PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Cơ sở khoa học của đề tài

2.2. Giới thiệu chung về probiotic

2.2.1. Định nghĩa về probiotic

2.2.2. Cơ chế hoạt động của probiotic

2.2.2.1. Loại trừ, cạnh tranh
2.2.2.2. Kháng khuẩn và khích thích hệ thống miễn dịch
2.2.2.3. Tăng cường tiêu hóa thức ăn
2.2.2.4. Giảm cholesterol
2.2.2.5. Tác dụng trên biểu mô ruột
2.2.2.6. Tác dụng đến hệ vi sinh vật đường ruột

2.2.3. Vi sinh vật đóng vai trò là probiotic

2.2.4. Vai trò của vi sinh vật probiotic

2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của gia cầm

2.3.1. Ảnh hưởng của dòng, giống

3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.2. Giới thiệu đôi nét về chế phẩm men Lacto sống

3.3. Địa điểm và thời gian tiến hành

3.4. Nội dung nghiên cứu

3.5. Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi

3.5.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm

3.5.2. Chỉ tiêu theo dõi và phương pháp xác định

3.5.3. Phương pháp xử lý số liệu

4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Công tác phục vụ sản xuất

4.2. Công tác chăn nuôi

4.3. Công tác thú y và vệ sinh phòng bệnh

4.4. Chẩn đoán và điều trị bệnh cho đàn gà toàn trại

4.5. Tham gia các hoạt động khác

4.6. Kết quả và phân tích kết quả

4.6.1. Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm

4.6.2. Khả năng sinh trưởng

4.6.3. Khả năng sử dụng và chuyển hóa thức ăn

4.6.4. Tiêu thụ thức ăn của gà thí nghiệm

4.6.5. Tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng khối lượng

4.6.6. Kết quả về tác dụng phòng bệnh đường tiêu hóa của chế phẩm men Lacto sống

4.6.7. Chỉ số sản xuất và chỉ số kinh tế

4.6.8. Chi phí thức ăn/kg tăng khối lượng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về men lacto sống và gà broiler Ross 308

Men lacto sống là một chế phẩm sinh học có tác dụng tích cực đến sức khỏe và năng suất của gia cầm. Nghiên cứu cho thấy, việc bổ sung men lacto sống vào khẩu phần ăn của gà broiler Ross 308 có thể cải thiện đáng kể khả năng sinh trưởng và sức sống của đàn gà. Gà Ross 308 được biết đến với khả năng sinh trưởng nhanh, ít bệnh tật và thích nghi tốt với điều kiện khí hậu Việt Nam. Việc áp dụng men lacto sống trong chăn nuôi không chỉ giúp tăng năng suất mà còn giảm thiểu chi phí sản xuất, từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi. Theo nghiên cứu, việc sử dụng men lacto sống đã cho thấy sự cải thiện rõ rệt trong tỷ lệ nuôi sống và khả năng tiêu thụ thức ăn của gà. Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc áp dụng các chế phẩm sinh học trong ngành chăn nuôi hiện đại.

1.1. Tác động của men lacto sống đến sinh trưởng của gà

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng men lacto sống có khả năng cải thiện quá trình tiêu hóa và hấp thu dinh dưỡng của gà broiler. Việc bổ sung chế phẩm này giúp tăng cường hệ vi sinh vật có lợi trong đường ruột, từ đó nâng cao khả năng tiêu hóa thức ăn. Kết quả cho thấy, gà được cho ăn với men lacto sống có tỷ lệ tăng trọng cao hơn so với gà không được bổ sung. Điều này không chỉ giúp gà phát triển nhanh hơn mà còn giảm thiểu tình trạng bệnh tật, nhờ vào việc cải thiện sức đề kháng của đàn gà. Theo một nghiên cứu, gà thí nghiệm có bổ sung men lacto sống có tỷ lệ sống sót cao hơn 10% so với nhóm đối chứng, cho thấy tác động tích cực của chế phẩm này đến sức khỏe và năng suất của gà.

II. Phương pháp nghiên cứu và thiết kế thí nghiệm

Để đánh giá tác động của men lacto sống đến năng suất của gà broiler Ross 308, một thiết kế thí nghiệm ngẫu nhiên đã được thực hiện tại Phấn Mễ, Phú Lương, Thái Nguyên. Thí nghiệm được chia thành hai nhóm: nhóm thí nghiệm (được bổ sung men lacto sống) và nhóm đối chứng (không bổ sung). Các chỉ tiêu theo dõi bao gồm tỷ lệ nuôi sống, khối lượng gà, khả năng tiêu thụ thức ăn và tỷ lệ chuyển hóa thức ăn. Kết quả thu được từ thí nghiệm cho thấy nhóm gà được bổ sung men lacto sống có tỷ lệ tiêu thụ thức ăn thấp hơn nhưng lại có khối lượng tăng trưởng cao hơn, cho thấy hiệu quả của chế phẩm này trong việc cải thiện khả năng sử dụng thức ăn. Phương pháp phân tích số liệu được thực hiện bằng cách sử dụng phần mềm thống kê để đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của kết quả.

2.1. Thiết kế thí nghiệm

Thiết kế thí nghiệm được thực hiện theo phương pháp ngẫu nhiên hoàn toàn, với số lượng gà thí nghiệm là 100 con, chia thành hai nhóm: nhóm thí nghiệm và nhóm đối chứng. Mỗi nhóm được nuôi trong điều kiện giống nhau về thức ăn, nước uống và môi trường. Thời gian thí nghiệm kéo dài trong 8 tuần, trong đó các chỉ tiêu sinh trưởng và sức khỏe của gà được theo dõi định kỳ. Kết quả cho thấy, nhóm gà được bổ sung men lacto sống có tỷ lệ tăng trưởng cao hơn 15% so với nhóm đối chứng, cho thấy sự hiệu quả của chế phẩm này trong việc nâng cao năng suất chăn nuôi. Điều này khẳng định rằng việc áp dụng men lacto sống là một giải pháp hiệu quả cho ngành chăn nuôi gia cầm tại Việt Nam.

III. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc bổ sung men lacto sống vào khẩu phần ăn của gà broiler Ross 308 đã mang lại nhiều lợi ích rõ rệt. Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm đạt 95%, cao hơn 10% so với nhóm đối chứng. Khối lượng gà thí nghiệm cũng tăng nhanh hơn, với mức tăng trung bình đạt 50g/con/tuần. Điều này cho thấy men lacto sống không chỉ giúp cải thiện sức khỏe mà còn nâng cao năng suất sản xuất. Ngoài ra, chi phí thức ăn cho 1kg tăng trọng cũng giảm đáng kể, từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi. Kết quả này phù hợp với nhiều nghiên cứu trước đó, cho thấy men lacto sống có tác dụng tích cực đến khả năng sinh trưởng và sức khỏe của gia cầm.

3.1. Phân tích kết quả

Phân tích kết quả cho thấy, việc sử dụng men lacto sống đã giúp cải thiện đáng kể các chỉ tiêu sinh trưởng của gà broiler Ross 308. Tỷ lệ tiêu tốn thức ăn trên 1kg tăng trọng giảm xuống còn 1,5kg, cho thấy hiệu quả trong việc sử dụng thức ăn. Hơn nữa, tỷ lệ mắc bệnh đường tiêu hóa ở nhóm gà thí nghiệm cũng giảm rõ rệt, cho thấy men lacto sống có tác dụng phòng bệnh hiệu quả. Những kết quả này không chỉ có ý nghĩa về mặt khoa học mà còn có giá trị thực tiễn cao, giúp người chăn nuôi có thêm thông tin để áp dụng các chế phẩm sinh học trong chăn nuôi, từ đó nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế.

02/03/2025
Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm men lacto sống đến khả năng sản xuất của gà broiler ross 308 tại xã phấn mễ huyện phú lương tỉnh thái nguyên

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Nước ta là một nước có nền nông nghiệp phát triển. Trong đó ngành chăn nuôi đóng vai trò rất quan trọng, cung cấp nguồn dinh dưỡng cao cho con người như thịt, trứng, sữa,… Ngoài ra còn cung cấp một lượng lớn nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến và nguồn phân bón cho ngành trồng trọt. Trên cơ sở đó, trong những năm gần đây ngành chăn nuôi đang trở thành mũi nhọn trong việc phát triển kinh tế của các hộ nông dân trong cả nước góp phần mang lại hiệu quả kinh tế, cải thiện đời sống. Trong đó, chăn nuôi gia cầm đang được chú trọng phát triển.

Như chúng ta đã biết sản phẩm từ chăn nuôi gia cầm chiếm một tỷ lệ cao trong khẩu phần ăn của con người, cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng như protein, axit amin, vitamin, chất khoáng,… Kinh tế phát triển, cuộc sống con người ngày càng được cải thiện thì những đòi hỏi về nhu cầu thực phẩm như thịt, trứng, sữa có chất lượng ngày càng cao. Đứng trước nhu cầu thực tiễn sản xuất trên, ngành chăn nuôi đã tiến hành lai tạo thành công và nhập ngoại một số giống gà thịt về nuôi thành công, trong đó có giống gà broiler Ross 308. Gà broiler Ross 308 là giống gà có đặc điểm dễ nuôi nhanh lớn, ít bệnh tật và cho năng suất cao, thích nghi tốt với khí hậu nhiệt đới, thịt thơm ngon phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng. Song chất lượng cũng như số lượng thịt gà cung cấp cho thị trường vẫn còn hạn chế.

Để khắc phục tình trạng đó đã có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến khả năng sản xuất của gà broiler Ross 308 như bổ sung chế phẩm sinh học vào khẩu phần ăn để tăng khả năng sản xuất của gà. Hiện nay, trên thế giới cũng như ở nước ta đã có rất nhiều công trình nghiên cứu đã tìm ra một số chế phẩm sinh học bổ sung vào khẩu phần ăn nhằm đạt được kết quả cao trong quá trình sinh trưởng và phòng bệnh cho gà. Trong đó có chế phẩm men Lacto sống. Nó có tác dụng làm tăng khả năng e 2 sản xuất, khả năng kháng bệnh.

Giúp người chăn nuôi giảm chi phí sản xuất, tăng thu nhập cũng như bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng. Để đánh giá tác dụng của chế phẩm sinh học men Lacto sống đến khả năng sinh trưởng của gà broiler Ross 308, tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm men Lacto sống đến khả năng sản xuất của gà broiler Ross 308 tại xã Phấn Mễ, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên’’. Mục tiêu của đề tài - Đánh giá ảnh hưởng của chế phẩm sinh học men Lacto sống đến sức sống và khả năng sinh trưởng của gà broiler Ross 308. - Đánh giá ảnh hưởng của chế phẩm sinh học men Lacto sống đến tiêu tốn thức ăn và hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi gà broiler Ross 308.

- Đánh ảnh hưởng của chế phẩm sinh học men Lacto sống đến khả năng phòng bệnh đường tiêu hóa trong chăn nuôi gà broiler Ross 308. - Bản thân làm quen với công tác nghiên cứu khoa học về chăn nuôi. - Cung cấp thông tin cho việc hoàn thiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng gà thịt theo hướng công nghiệp. Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa khoa học: Kết quả của đề tài làm tài liệu tham khảo cho các tập thể, hộ gia đình, cá nhân chăn nuôi gà broiler Ross 308 trong chuồng kín theo hướng công nghiệp.

- Ý nghĩa thực tiễn: Giúp người chăn nuôi có thêm kiến thức về chế phẩm sinh học men Lacto sống và có quyết định đúng đắn trong việc lựa chọn sử dụng chế phẩm này trong chăn nuôi gà broiler Ross 308. e 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Giới thiệu chung về probiotic 2.

Định nghĩa về probiotic Probiotic là những vi sinh vật như vi khuẩn hay nấm men nếu được đưa vào cơ thể với số lượng được kiểm soát hợp lí sẽ đem lại sức khỏe cho người sử dụng. Ngoài ra, chúng có thể được thêm vào sản phẩm lên men sữa, góp một phần trong việc hình thành sản phẩm lên men, hoặc được bổ sung dưới dạng bột đông khô. Từ "probiotic" được bắt nguồn từ Hy Lạp, có nghĩa là "dành cho cuộc sống". Probiotic là những vi sinh vật như vi khuẩn hay nấm men mà có thể thêm vào thực phẩm với mục đích điều chỉnh quần thể sinh vật đường ruột của sinh vật chủ (Parker, 1974) [40 ].

Van De Kerkove (1979), Barrows và Deam (1985), Lestradet (1995) cùng cho rằng probiotic được sử dụng như một liệu pháp trong việc chữa trị bệnh tiêu chảy hay như là cách phòng bệnh ở người và động vật để giảm đến mức tối thiểu sự phát tán của vi sinh vật đường ruột, sự kháng lại liệu pháp sinh học và sự di căn của chứng viêm dạ dày ruột. Probiotic cũng được nhận thấy là có những ảnh hưởng có lợi trên sức khỏe của sinh vật chủ (Fuller, 1989) [ ]. Năm 1992 Havenaar đã mở rộng định nghĩa về probiotic: Probiotic được định nghĩa như là sự nuôi cấy riêng lẻ hay hỗn hợp các vi sinh vật sống mà có ảnh hưởng có lợi cho sinh vật chủ bằng cách cải thiện những đặc tính của vi sinh vật bản địa. Cơ chế hoạt động của probiotic Trong đường ruột của động vật, probiotic là nhóm vi khuẩn có lợi, hoạt động theo nhiều cơ chế khác nhau: e 4 a) Loại trừ, cạnh tranh: Nghĩa là cạnh tranh bám vào màng nhầy thành ruột, qua đó tạo nên một hàng rào vật lý bảo vệ sự tấn công của các vi khuẩn gây bệnh (Nguyễn Thị Thúy Hiền, 2010) [4 ].

b) Kháng khuẩn và khích thích hệ thống miễn dịch: Các probiotic sản xuất ra hoạt chất kháng khuẩn và men khích thích hệ thống miễn dịch, ngăn cản sự phát triển của các vi khuẩn gây bệnh bằng cách sinh axit béo, peroxide và các kháng sinh. In vitro, các vi khuẩn lactic ngăn cản sự phát triển của Staphylococcus, Shigella, Klebsiella, Proteus, Pseudomonas, Salmonella và các chủng E.coli gây bệnh. Vi sinh vật probiotic làm giảm số lượng vi khuẩn gây bệnh để ngăn chặn các mầm bệnh bằng cách tiết ra các chất kháng khuẩn ức chế cả vi khuẩn Gram dương và Gram âm. Đó là các axit hữu cơ như: Axit lactic, axit axetic.

Những hợp chất này có thể làm giảm không chỉ những sinh vật mang mầm bệnh mà còn ảnh hưởng đến sự trao đổi chất của vi khuẩn và sự tạo ra các độc tố. Điều này được thực hiện bằng cách giảm pH khoang ruột thông qua sự tạo ra các axit béo chuỗi ngắn dễ bay hơi, chủ yếu là axetate, propionate, butyrate, nhất là axit lactic. Probiotic như là phương tiện để phân phát các phân tử kháng viêm cho đường ruột, đẩy mạnh sự báo hiệu cho tế bào chủ để làm giảm đáp ứng viêm, tạo đáp ứng miễn dịch. Vi khuẩn probiotic có khả năng huy động các tế bào miễn dịch, hoạt hóa các đáp ứng miễn dịch thích hợp nhờ một cơ chế phức tạp bắt đầu bằng sự tương tác giữa tế bào probiotic và tế bào của hệ miễn dịch.

c) Tăng cường tiêu hóa thức ăn: Vi khuẩn lactic sản xuất vitamin nhóm B và các enzyme phân giải protein, lipit và chuyển hóa đường lactose trong sữa thành axit lactic, ngăn ngừa chứng tiêu chảy do không dung nạp đường lactose trong sữa. d) Giảm cholesterol: Nhiều kết quả cho thấy, vi khuẩn lactic có tác dụng làm giảm cholesterol trong máu. Nguyễn Thị Thúy Hiền (2010) [4] cho biết vi e 5 khuẩn lactic phân lập từ phân lợn có khả năng phân hủy cholesterol trong môi trường nuôi cấy. Các báo cáo cho thấy nồng độ cholesterol trong máu thấp ở những con lợn được nuôi có bổ sung các chủng vi khuẩn lactic được phân lập trên.

e) Tác dụng trên biểu mô ruột: Vi sinh vật probiotic có khả năng bám dính tốt tế bào biểu mô ruột, cạnh tranh nơi cư trú với các vi sinh vật gây bệnh và cạnh tranh dinh dưỡng. Do đó, chúng có khả năng giảm khích thích bài tiết và những hậu quả do phản ứng viêm của sự lây nhiễm vi khuẩn, cũng như đẩy mạnh sự tạo ra các dòng phân tử phòng vệ như chất nhầy. f) Tác dụng đến hệ vi sinh vật đường ruột: Probiotic điều chỉnh thành phần của vi khuẩn đường ruột. Khi tập trung ở khoang ruột, chúng tạo nên sự cân bằng tạm thời của hệ sinh thái đường ruột sự thay đổi này được nhận thấy một vài ngày sau khi bắt đầu tiêu thụ thực phẩm có probiotic, phụ thuộc vào công dụng và liều lượng của giống vi khuẩn.

Kết quả chỉ ra rằng với sự tiêu thụ thường xuyên, vi khuẩn định cư một cách tạm thời trong ruột, một khi chấm dứt sự tiêu thụ thì số lượng vi sinh vật probiotic sẽ giảm xuống. Điều này đúng cho tất cả các loại probiotic. Vi khuẩn probiotic điều hòa hoạt động trao đổi chất của sinh vật đường ruột. Probiotic có thể làm giảm pH của bộ phận tiêu hóa và có thể theo cách đó sẽ gây cản trở cho hoạt động tiết ra enzyme của sinh vật đường ruột.

Probiotic định cư ở ruột với những vi khuẩn có lợi và loại trừ bệnh gây ra bởi các vi sinh vật như: E.coli, Salmonella và Clostridium ở những vị trí lông nhung của ruột non, nơi mà vi khuẩn có hại sẽ phá hủy lông nhung. Probiotic gia tăng sự kháng bệnh bằng cách tăng nhiệt độ cao của lông nhung và tăng độ sâu của các khe nằm giữa lông nhung, theo cách đó sẽ gia tăng được diện tích bề mặt hấp thu chất dinh dưỡng. Vì vậy, vật nuôi sẽ gia tăng hiệu quả hấp thu thức ăn. e 6 Những nhà khoa học từ Viện nghiên cứu thực phẩm ở Norwich (nước Anh) báo cáo là những probiotic đặc biệt có thể tiêu diệt mầm bệnh vi khuẩn sống ở ruột gia cầm, do đó giúp loại bỏ mối đe dọa sự ngộ độc thực phẩm vi khuẩn từ chuỗi thức ăn (Nguyễn Thị Thúy Hiền, 2010) [4].

Vi sinh vật đóng vai trò là probiotic Lactobacillus: là trực khuẩn Gram (+) không sinh bào tử. Vi khuẩn có dạng hình que hay hình cầu. Thuộc dạng hiếu khí hay kị khí, ưa acid. Xếp riêng lẻ hoặc thành chuỗi.

Môi trường sống chủ yếu trên chất nền chưa carbohydrate (lớp chất nhầy của người và động vật, chất thải và thực phẩm lên men hay hư hỏng). Lactobacillus là vi khuẩn Gram dương, tạo axit lactic, tạo thành một phần chính của vi khuẩn đường ruột thông thường ở người và động vật. Những vi khuẩn "thân thiện" này đóng vai trò quan trọng trong việc đẩy mạnh sự kháng lại những sinh vật ngoại sinh nhất là sinh vật mang mầm bệnh.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài nghiên cứu mang tiêu đề "Nghiên cứu ảnh hưởng của men lacto sống đến năng suất gà broiler Ross 308 tại Phấn Mễ, Phú Lương, Thái Nguyên" tập trung vào việc đánh giá tác động của men lacto sống đối với năng suất chăn nuôi gà thịt. Nghiên cứu chỉ ra rằng việc bổ sung men lacto sống có thể cải thiện sức khỏe và năng suất của gà broiler, từ đó giúp người chăn nuôi tăng lợi nhuận. Những kết quả này không chỉ có giá trị thực tiễn cho các trang trại mà còn mở ra hướng nghiên cứu mới trong lĩnh vực chăn nuôi gia cầm.

Để mở rộng thêm kiến thức về các phương pháp và sản phẩm hỗ trợ trong chăn nuôi gà, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu đánh giá hiệu quả của algimun đến gà broiler cobb 500 và gà ri lai ri xlương phượng nuôi chuồng hở tại thái nguyên, nơi nghiên cứu về hiệu quả của một loại chế phẩm khác trong chăn nuôi gà. Ngoài ra, Luận văn đánh giá hiệu quả mô hình chăn nuôi gà tại trang trại gà thịt của công ty cổ phần dinh dưỡng hải thịnh tại phường tích lương thành phố thái nguyên cũng sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các mô hình chăn nuôi hiệu quả. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận án tiến sĩ nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm phức kim loại sắt đồng kẽm selen đến khả năng sản xuất của gà thương phẩm, để thấy được sự đa dạng trong các nghiên cứu về dinh dưỡng và sức khỏe gà. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất chăn nuôi gà.