Đặt vấn đề Nước ta là một nước có nền nông nghiệp phát triển. Trong đó ngành chăn nuôi đóng vai trò rất quan trọng, cung cấp nguồn dinh dưỡng cao cho con người như thịt, trứng, sữa,… Ngoài ra còn cung cấp một lượng lớn nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến và nguồn phân bón cho ngành trồng trọt. Trên cơ sở đó, trong những năm gần đây ngành chăn nuôi đang trở thành mũi nhọn trong việc phát triển kinh tế của các hộ nông dân trong cả nước góp phần mang lại hiệu quả kinh tế, cải thiện đời sống. Trong đó, chăn nuôi gia cầm đang được chú trọng phát triển.
Như chúng ta đã biết sản phẩm từ chăn nuôi gia cầm chiếm một tỷ lệ cao trong khẩu phần ăn của con người, cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng như protein, axit amin, vitamin, chất khoáng,… Kinh tế phát triển, cuộc sống con người ngày càng được cải thiện thì những đòi hỏi về nhu cầu thực phẩm như thịt, trứng, sữa có chất lượng ngày càng cao. Đứng trước nhu cầu thực tiễn sản xuất trên, ngành chăn nuôi đã tiến hành lai tạo thành công và nhập ngoại một số giống gà thịt về nuôi thành công, trong đó có giống gà broiler Ross 308. Gà broiler Ross 308 là giống gà có đặc điểm dễ nuôi nhanh lớn, ít bệnh tật và cho năng suất cao, thích nghi tốt với khí hậu nhiệt đới, thịt thơm ngon phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng. Song chất lượng cũng như số lượng thịt gà cung cấp cho thị trường vẫn còn hạn chế.
Để khắc phục tình trạng đó đã có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến khả năng sản xuất của gà broiler Ross 308 như bổ sung chế phẩm sinh học vào khẩu phần ăn để tăng khả năng sản xuất của gà. Hiện nay, trên thế giới cũng như ở nước ta đã có rất nhiều công trình nghiên cứu đã tìm ra một số chế phẩm sinh học bổ sung vào khẩu phần ăn nhằm đạt được kết quả cao trong quá trình sinh trưởng và phòng bệnh cho gà. Trong đó có chế phẩm men Lacto sống. Nó có tác dụng làm tăng khả năng e 2 sản xuất, khả năng kháng bệnh.
Giúp người chăn nuôi giảm chi phí sản xuất, tăng thu nhập cũng như bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng. Để đánh giá tác dụng của chế phẩm sinh học men Lacto sống đến khả năng sinh trưởng của gà broiler Ross 308, tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm men Lacto sống đến khả năng sản xuất của gà broiler Ross 308 tại xã Phấn Mễ, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên’’. Mục tiêu của đề tài - Đánh giá ảnh hưởng của chế phẩm sinh học men Lacto sống đến sức sống và khả năng sinh trưởng của gà broiler Ross 308. - Đánh giá ảnh hưởng của chế phẩm sinh học men Lacto sống đến tiêu tốn thức ăn và hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi gà broiler Ross 308.
- Đánh ảnh hưởng của chế phẩm sinh học men Lacto sống đến khả năng phòng bệnh đường tiêu hóa trong chăn nuôi gà broiler Ross 308. - Bản thân làm quen với công tác nghiên cứu khoa học về chăn nuôi. - Cung cấp thông tin cho việc hoàn thiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng gà thịt theo hướng công nghiệp. Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa khoa học: Kết quả của đề tài làm tài liệu tham khảo cho các tập thể, hộ gia đình, cá nhân chăn nuôi gà broiler Ross 308 trong chuồng kín theo hướng công nghiệp.
- Ý nghĩa thực tiễn: Giúp người chăn nuôi có thêm kiến thức về chế phẩm sinh học men Lacto sống và có quyết định đúng đắn trong việc lựa chọn sử dụng chế phẩm này trong chăn nuôi gà broiler Ross 308. e 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Giới thiệu chung về probiotic 2.
Định nghĩa về probiotic Probiotic là những vi sinh vật như vi khuẩn hay nấm men nếu được đưa vào cơ thể với số lượng được kiểm soát hợp lí sẽ đem lại sức khỏe cho người sử dụng. Ngoài ra, chúng có thể được thêm vào sản phẩm lên men sữa, góp một phần trong việc hình thành sản phẩm lên men, hoặc được bổ sung dưới dạng bột đông khô. Từ "probiotic" được bắt nguồn từ Hy Lạp, có nghĩa là "dành cho cuộc sống". Probiotic là những vi sinh vật như vi khuẩn hay nấm men mà có thể thêm vào thực phẩm với mục đích điều chỉnh quần thể sinh vật đường ruột của sinh vật chủ (Parker, 1974) [40 ].
Van De Kerkove (1979), Barrows và Deam (1985), Lestradet (1995) cùng cho rằng probiotic được sử dụng như một liệu pháp trong việc chữa trị bệnh tiêu chảy hay như là cách phòng bệnh ở người và động vật để giảm đến mức tối thiểu sự phát tán của vi sinh vật đường ruột, sự kháng lại liệu pháp sinh học và sự di căn của chứng viêm dạ dày ruột. Probiotic cũng được nhận thấy là có những ảnh hưởng có lợi trên sức khỏe của sinh vật chủ (Fuller, 1989) [ ]. Năm 1992 Havenaar đã mở rộng định nghĩa về probiotic: Probiotic được định nghĩa như là sự nuôi cấy riêng lẻ hay hỗn hợp các vi sinh vật sống mà có ảnh hưởng có lợi cho sinh vật chủ bằng cách cải thiện những đặc tính của vi sinh vật bản địa. Cơ chế hoạt động của probiotic Trong đường ruột của động vật, probiotic là nhóm vi khuẩn có lợi, hoạt động theo nhiều cơ chế khác nhau: e 4 a) Loại trừ, cạnh tranh: Nghĩa là cạnh tranh bám vào màng nhầy thành ruột, qua đó tạo nên một hàng rào vật lý bảo vệ sự tấn công của các vi khuẩn gây bệnh (Nguyễn Thị Thúy Hiền, 2010) [4 ].
b) Kháng khuẩn và khích thích hệ thống miễn dịch: Các probiotic sản xuất ra hoạt chất kháng khuẩn và men khích thích hệ thống miễn dịch, ngăn cản sự phát triển của các vi khuẩn gây bệnh bằng cách sinh axit béo, peroxide và các kháng sinh. In vitro, các vi khuẩn lactic ngăn cản sự phát triển của Staphylococcus, Shigella, Klebsiella, Proteus, Pseudomonas, Salmonella và các chủng E.coli gây bệnh. Vi sinh vật probiotic làm giảm số lượng vi khuẩn gây bệnh để ngăn chặn các mầm bệnh bằng cách tiết ra các chất kháng khuẩn ức chế cả vi khuẩn Gram dương và Gram âm. Đó là các axit hữu cơ như: Axit lactic, axit axetic.
Những hợp chất này có thể làm giảm không chỉ những sinh vật mang mầm bệnh mà còn ảnh hưởng đến sự trao đổi chất của vi khuẩn và sự tạo ra các độc tố. Điều này được thực hiện bằng cách giảm pH khoang ruột thông qua sự tạo ra các axit béo chuỗi ngắn dễ bay hơi, chủ yếu là axetate, propionate, butyrate, nhất là axit lactic. Probiotic như là phương tiện để phân phát các phân tử kháng viêm cho đường ruột, đẩy mạnh sự báo hiệu cho tế bào chủ để làm giảm đáp ứng viêm, tạo đáp ứng miễn dịch. Vi khuẩn probiotic có khả năng huy động các tế bào miễn dịch, hoạt hóa các đáp ứng miễn dịch thích hợp nhờ một cơ chế phức tạp bắt đầu bằng sự tương tác giữa tế bào probiotic và tế bào của hệ miễn dịch.
c) Tăng cường tiêu hóa thức ăn: Vi khuẩn lactic sản xuất vitamin nhóm B và các enzyme phân giải protein, lipit và chuyển hóa đường lactose trong sữa thành axit lactic, ngăn ngừa chứng tiêu chảy do không dung nạp đường lactose trong sữa. d) Giảm cholesterol: Nhiều kết quả cho thấy, vi khuẩn lactic có tác dụng làm giảm cholesterol trong máu. Nguyễn Thị Thúy Hiền (2010) [4] cho biết vi e 5 khuẩn lactic phân lập từ phân lợn có khả năng phân hủy cholesterol trong môi trường nuôi cấy. Các báo cáo cho thấy nồng độ cholesterol trong máu thấp ở những con lợn được nuôi có bổ sung các chủng vi khuẩn lactic được phân lập trên.
e) Tác dụng trên biểu mô ruột: Vi sinh vật probiotic có khả năng bám dính tốt tế bào biểu mô ruột, cạnh tranh nơi cư trú với các vi sinh vật gây bệnh và cạnh tranh dinh dưỡng. Do đó, chúng có khả năng giảm khích thích bài tiết và những hậu quả do phản ứng viêm của sự lây nhiễm vi khuẩn, cũng như đẩy mạnh sự tạo ra các dòng phân tử phòng vệ như chất nhầy. f) Tác dụng đến hệ vi sinh vật đường ruột: Probiotic điều chỉnh thành phần của vi khuẩn đường ruột. Khi tập trung ở khoang ruột, chúng tạo nên sự cân bằng tạm thời của hệ sinh thái đường ruột sự thay đổi này được nhận thấy một vài ngày sau khi bắt đầu tiêu thụ thực phẩm có probiotic, phụ thuộc vào công dụng và liều lượng của giống vi khuẩn.
Kết quả chỉ ra rằng với sự tiêu thụ thường xuyên, vi khuẩn định cư một cách tạm thời trong ruột, một khi chấm dứt sự tiêu thụ thì số lượng vi sinh vật probiotic sẽ giảm xuống. Điều này đúng cho tất cả các loại probiotic. Vi khuẩn probiotic điều hòa hoạt động trao đổi chất của sinh vật đường ruột. Probiotic có thể làm giảm pH của bộ phận tiêu hóa và có thể theo cách đó sẽ gây cản trở cho hoạt động tiết ra enzyme của sinh vật đường ruột.
Probiotic định cư ở ruột với những vi khuẩn có lợi và loại trừ bệnh gây ra bởi các vi sinh vật như: E.coli, Salmonella và Clostridium ở những vị trí lông nhung của ruột non, nơi mà vi khuẩn có hại sẽ phá hủy lông nhung. Probiotic gia tăng sự kháng bệnh bằng cách tăng nhiệt độ cao của lông nhung và tăng độ sâu của các khe nằm giữa lông nhung, theo cách đó sẽ gia tăng được diện tích bề mặt hấp thu chất dinh dưỡng. Vì vậy, vật nuôi sẽ gia tăng hiệu quả hấp thu thức ăn. e 6 Những nhà khoa học từ Viện nghiên cứu thực phẩm ở Norwich (nước Anh) báo cáo là những probiotic đặc biệt có thể tiêu diệt mầm bệnh vi khuẩn sống ở ruột gia cầm, do đó giúp loại bỏ mối đe dọa sự ngộ độc thực phẩm vi khuẩn từ chuỗi thức ăn (Nguyễn Thị Thúy Hiền, 2010) [4].
Vi sinh vật đóng vai trò là probiotic Lactobacillus: là trực khuẩn Gram (+) không sinh bào tử. Vi khuẩn có dạng hình que hay hình cầu. Thuộc dạng hiếu khí hay kị khí, ưa acid. Xếp riêng lẻ hoặc thành chuỗi.
Môi trường sống chủ yếu trên chất nền chưa carbohydrate (lớp chất nhầy của người và động vật, chất thải và thực phẩm lên men hay hư hỏng). Lactobacillus là vi khuẩn Gram dương, tạo axit lactic, tạo thành một phần chính của vi khuẩn đường ruột thông thường ở người và động vật. Những vi khuẩn "thân thiện" này đóng vai trò quan trọng trong việc đẩy mạnh sự kháng lại những sinh vật ngoại sinh nhất là sinh vật mang mầm bệnh.