MỞ ĐẦU 1. BỐI CẢNH NGHIÊN CỨU (TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI) VÀ TUYÊN BỐ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU Sự bùng nổ trong công nghệ thông tin đã đưa thế giới đến với một kỷ nguyên của các phương tiện truyền thông đại chúng, trong đó hầu như tất cả mọi người đều được tiếp cận với thông tin nhanh chóng, đặc biệt là qua MXH (MXH), nó xuất hiện đã đáp ứng rất tốt cho con người trong việc liên lạc, việc phải chờ đợi để nhận một bức thư từ người thân hay việc phải tốn một mức phí rất lớn để có thể liên lạc với người thân ở nơi khác, nhất là những người ở nước ngoài đã không còn nữa. Như vậy, MXH ra đời đã có sự tác động nhất định đối với nhiều đối tượng khác nhau và ảnh hưởng rõ nhất là giới trẻ nói chung và cộng đồng sinh viên nói riêng. MXH xuất hiện lần đầu tiên năm 1995 với sự ra đời của trang Classmate với mục đích kết nối bạn học và tiếp nối đó là các trang SixDegrees (1997), Friendster (2002), Myspace (2004) đến Facebook (2006) được đón tiếp nồng nhiệt và ngày càng được hoàn thiện và phát triển với nhiều tiện ích phù hợp với sự thay đổi nhanh chóng của xã hội.
Theo Meltwater và We are social năm 2024 thì thế giới có hơn 8 tỷ người, trong khi đó có tổng cộng 5,04 tỷ người dùng MXH đang hoạt động, chiếm 62,3% dân số thế giới. Lượng người dùng MXH đã tăng thêm 266 triệu trong năm qua, với mức tăng trưởng hằng năm là 5,6%. Báo cáo cũng cho thấy, người dùng thường dành 2 giờ 23 phút mỗi ngày để hoạt động trên các nền tảng MXH [1]. Ở Việt Nam cũng vậy, có 77,93 triệu người dùng Internet, trong đó số lượng người dùng MXH cũng đạt con số 70 triệu, tương đương với 71% tổng dân số.
Người Việt dành trung bình 6 giờ 52 phút mỗi ngày cho việc sử dụng internet, trong đó là 2 giờ 32 phút là dành cho MXH. Có thể nhận thấy rằng MXH đã có chiếm một phần không thể thiếu trong đời sống của người dân hiện nay. Hầu hết sinh viên ở Việt Nam đều sử dụng MXH, kết quả khảo sát từ một nghiên cứu về sinh viên thực hiện ở sáu thành phố lớn là Hà Nội, Hải Phòng, Vinh, Huế, Đà Nẵng và TP. HCM đã cho kết quả là 99% sinh viên sử dụng MXH, nghiên cứu cũng chỉ ra sinh viên sử dụng MXH với thời gian trung bình là từ 3 đến 5 giờ mỗi ngày.
Đó là là thời gian khá lớn và chắc chắn nó sẽ ảnh hưởng đến kết quả học tập của sinh viên. Vì những lý do trên, nhóm đã quyết định lựa chọn “ảnh hưởng của mạng xã hội đến kết quả học tập của sinh viên trường Đại học Thương Mại” làm đề tài thảo luận. Trường Đại học Thương Mại là một trong những trường đại học dẫn đầu trong lĩnh vực kinh tế và các sinh viên tại đây sẽ ít nhiều hiểu biết và quan tâm nhiều hơn về các vấn đề xã hội. Đề tài này phù hợp với xu thế xã hội hiện nay bởi nó tập trung làm rõ ảnh hưởng của mạng xã hội tới một nhóm đối tượng xã hội cụ thể là sinh viên, đặc biệt là những phương diện quan trọng nhất gắn liền với sinh viên là kết quả học tập.
Đồng thời, bài nghiên cứu này sẽ giúp mọi người, nhất là sinh viên có cái nhìn hoàn thiện hơn về các hoạt động trên mạng xã hội có thể ảnh hưởng đến kết quả học tập của mình từ đó điều chỉnh và thay đổi sao cho phù hợp và phát triển tốt hơn.2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Dựa vào các thông tin đã tìm hiểu được, nhóm đưa ra bảng tổng hợp sau : Tên tài liệu Tên tác Giả Phương Cơ sở lý thuyết Kết quả giả thuyết pháp nghiên NC, pp cứu thu thập và xử lí dữ liệu Tác động của Cù Thị H1: Sử phương Trần Thị Hoàn, Nguyễn Thị Kết quả MXH đến học Nhung dụng pháp Nhung (2021), Vũ Thị Lê kiểm tập và đời MXH và nghiên (2022), Trần Hữu Luyến, tra sống của sinh các hoạt cứu Trần Hữu, Trần Thị Minh SPSS, viên Trường động học định Đức, & Bùi Thị Hồng Thái H1, H2, Đại học Hà tập lượng, (2015), Nguyễn Lan Nguyên H3, H4, Tĩnh H2: Mở phương (2020) H5, H6 rộng mối pháp được quan hệ, nghiên chấp giữ liên cứu nhận lạc định thường tính xuyên với bạn bè người thân trên MXH H3: Nơi giải trí hiệu quả trên MXH H4: Tìm kiếm, cập nhật thông tin xã hội trên MXH H5: Chia sẻ thông tin, cảm xúc, hình ảnh trên MXH H6: Kinh doanh bán hàng, mua sắm online trên MXH Nghiên cứu Lê Thị H1: Công phương Hew, K. Kết quả các nhân tố Thanh Hà cụ học pháp (2010), Jung, Insung;Choi, kiểm của MXH tác , Trần tập của nghiên Seonghee; Lim,Cheolil; tra động đến kết Tuấn MXH cứu Leem, Junghoon (2002), SPSS, quả học tập Anh, H2: Tìm định Angela Yan Yu (2010), H1, H2, của sinh viên Huỳnh kiếm lượng, Huang, Hsieh, Wu, (2014) H3, H4, trường đại học Xuân Trí thông tin phương được công nghiệp trên pháp chấp thực phẩm tp. MXH nghiên nhận Đánh giá kết quả đào tạo đại học theo hướng chú trọng năng lực phân tích, sáng tạo, tự cập nhật, đổi mới kiến thức; đạo đức nghề nghiệp; năng lực nghiên cứu và ứng dụng khoa học và công nghệ; năng lực thực hành, năng lực tổ chức và thích nghi với môi trường làm việc. [Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI (2013), Nghị quyết 29-NQ/TW về Đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục và Đào tạo, đáp ứng yêu cầu CN hóa, HĐ hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế, ngày 4/11/2013, chủ biên, tr.] Bộ Giáo dục và Đào tạo năm 2007 đã ban hành quy chế đào tạo Đại học và 28 Cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ, và coi kết quả học tập của sinh viên được đánh giá sau từng học kì qua các tiêu chí: - Số tín chỉ của các học phần đăng kí vào đầu mỗi học kì - Điểm trung bình chung học kỳ - Khối lượng kiến thức tích lũy được tính bằng tổng số tín chỉ của các học phần được đánh giá theo thang A, B, C, D từ đầu khóa học - Điểm trung bình chung tích lũy, là điểm trung bình các học phần và được đánh giá bằng thang A, B, C, D tính từ đầu khóa học cho đến thời điểm được xem xét vào lúc kết thúc mỗi học kỳ.
[MOET (2007), "Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ"] Trường Đại học Thương mại quy định về việc đánh giá kết quả học tập theo học kỳ, năm học như sau: 1. Kết quả học tập của sinh viên được đánh giá sau từng kỳ học hoặc sau từng năm học, dựa trên kết quả các học phần nằm trong yêu cầu của chương trình đào tạo mà sinh viên đã học và có điểm theo các tiêu chí sau đây: - Tổng số tín chỉ của những học phần mà sinh viên đã đạt từ đầu khóa học (số tín chỉ tích lũy), tính cả các học phần miễn học, được công nhận tín chỉ; - Điểm trung bình của những học phần mà sinh viên đã đăng ký và được duyệt trong một học kỳ (điểm trung bình học kỳ), trong một năm học ( điểm trung bình năm học) tính theo điểm học phần và trọng số là số tín chỉ của học phần đó. - Điểm trung bình tích lũy (ĐTBTL) là điểm trung bình của những học phần mà sinh viên đã được tích lũy được tính từ đầu khóa học tới thời điểm xét tính theo điểm học phần và trọng số là số tín chỉ của học phần đó. - Tổng số tín chỉ của những học phần mà sinh viên không đạt trong một kỳ, trong một năm học hoặc nợ đọng từ đầu khóa học (áp dụng cho phương thức đào tạo theo niên chế).
Tính điểm trung bình học kỳ/ năm học/ tích lũy: a) Để tính điểm trung bình học kỳ/ năm học/ tích lũy, mức điểm chữ của mỗi học phần phải được quy đổi qua điểm số như sau: A quy đổi thành 4,0; B+ quy đổi thành 3,5; B quy đổi thành 3,0; C+ quy đổi thành 2,5; C quy đổi thành 2,0; D+ quy đổi thành 1,5; D quy đổi thành 1,0; F quy đổi thành 0,0. b) Sau mỗi học kỳ, căn cứ vào điểm trung bình tích lũy, điểm trung bình học kỳ/năm học, sinh viên được xếp loại học lực như sau: Từ 3,60 đến 4,00: Xuất sắc; Từ 3,20 đến 3,59: Giỏi; Từ 2,50 đến 3,19: Khá; Từ 2,00 đến 2,49: Trung bình; Từ 1,00 đến 1,99:Yếu; Dưới 1,00: Kém. CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MXH ĐẾN KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI: Một số khái niệm liên quan đến nghiên cứu ảnh hưởng của MXH đến kết quả học tập của sinh viên Trường Đại học Thương mại có thể bao gồm: Nhân vật tạo động lực: Nhân vật tạo động lực trên MXH ảnh hưởng đến việc học tập là một người hoặc tài khoản trên MXH có khả năng thúc đẩy, truyền cảm hứng và tạo ra động lực cho người khác trong việc học tập. Những nhân vật này thường có sức ảnh hưởng lớn đối với những cá nhân sử dụng MXH thông qua nội dung học tập, chia sẻ kinh nghiệm, và những câu chuyện thành công.
Các đặc điểm của nhân vật tạo động lực trong việc học tập trên MXH có thể bao gồm: Kinh nghiệm cá nhân: họ thường có kinh nghiệm thực tế trong việc học tập và phát triển bản thân, chia sẻ những kinh nghiệm và bài học từ những trải nghiệm đó. Sự độc đáo và sáng tạo: họ có khả năng tiếp cận vấn đề một cách sáng tạo và cung cấp những góc nhìn mới mẻ, thu hút người khác và thúc đẩy sự tò mò ham muốn học tập. Tinh thần lạc quan và động viên: họ thường lan tỏa tinh thần lạc quan và động viên, giúp người khác vượt qua khó khăn và thách thức trong quá trình học tập. Minh chứng về thành công: Những người này thường có minh chứng về thành công trong việc học tập và phát triển sự nghiệp, làm cho thông điệp của họ trở nên đáng tin cậy và đáng ngưỡng mộ.
Bằng cách chia sẻ kinh nghiệm, động viên và tạo ra sự kết nối, những nhân vật này có thể trở thành nguồn động viên mạnh mẽ và có ảnh hưởng đối với việc học tập của người khác trên MXH.