CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ SỰ HÀI LÒNG NHÂN VIÊN 1. Khái niệm Có khá nhiều các định nghĩa về sự thỏa mãn công việc. Một trong các định nghĩa đầu tiên về sự thỏa mãn công việc và được trích dẫn nhiều nhất có thể kể đến là định nghĩa của Robert Hoppock (1935, trích dẫn bởi Scott và cộng sự, 1960).
Tác giả cho rằng, việc đo lường sự thỏa mãn công việc bằng hai cách: (a) đo lường sự thỏa mãn công việc nói chung và (b) đo lường sự thỏa mãn công việc ở các khía cạnh khác nhau liên quan đến công việc. Ông cũng cho rằng sự thỏa mãn công việc nói chung không phải chỉ đơn thuần là tổng cộng sự thỏa mãn của các khía cạnh khác nhau, mà sự thỏa mãn công việc nói chung có thể được xem như một biến riêng. Theo Spector (1997) sự thỏa mãn công việc đơn giản là việc người ta cảm thấy thích công việc của họ và các khía cạnh công việc của họ như thế nào. Vì nó là sự đánh giá chung, nên nó là một biến về thái độ.
Ellickson và Logsdon (2001) thì cho rằng sự thỏa mãn công việc được định nghĩa chung là mức độ người nhân viên yêu thích công việc của họ, đó là thái độ dựa trên sự nhận thức của người nhân viên (tích cực hay tiêu cực) về công việc hoặc môi trường làm việc của họ. Nói đơn giản hơn, môi trường làm việc càng đáp ứng được các nhu cầu, giá trị và tính cách của người lao động thì độ thỏa mãn công việc càng cao. Tại nhiều nước phương Tây, điều đầu tiên mà các công ty quan tâm là sự hài lòng của nhân viên tiếp theo là sự hài lòng của khách hàng và tiếp theo nữa mới là sự hài lòng của các cổ đông. Tiến hành điều tra sự hài lòng của nhân viên ta có thể biết nhân viên hài lòng ở phương diện nào và không hài Luan van 9 lòng ở phương diện nào.
Từ đó tổ chức có thể căn cứ vào kết quả này để cải thiện những phương diện mà nhân viên chưa hài lòng, nâng cao độ hài lòng của nhân viên đối với tổ chức từ đó xây dựng được những mối quan hệ lao động hài hoà trong tổ chức. Phân loại sự hài lòng: - Hài lòng thuộc bản chất bên trong có nghĩa động lực xuất phát từ một số kích thích bên trong như mong muốn làm chủ công việc. Việc thành công hay thất bại phụ thuộc vào hành động. - Hài lòng thuộc bản chất bên ngoài có nghĩa động cơ xuất phát từ mong muốn nhân được lương cao hay chấp nhận xã hội.
Việc thành công hay thất bại phụ thuộc các yếu tố bên ngoài. Một số nghiên cứu thang đo nhân tố Một số nghiên cứu khảo sát trước đây liên quan đến sự thỏa mãn của người lao động được xem xét, xác định, kiểm định và ứng dụng các thang đo nhân tố thực sự ảnh hưởng đến mức độ hài lòng người lao động, gồm một số nghiên cứu sau đây: a. Chỉ số mô tả công việc JDI của Smith, Kendall và Hullin (1969) Smith, Kendall và Hulin của trường Đại học Cornell đã xây dựng chỉ số mô tả công việc (Job Descriptive Index) và được đánh giá rất cao trong lý thuyết và thực tiễn, được thể hiện qua 05 thang đo nhân tố như sau: (a) Tính chất công việc; (b) Thanh toán thu nhập; (c) Thăng tiến; (d) Giám sát; (e) Đồng nghiệp. Theo nội dung đánh giá của chỉ số mô tả công việc JDI, mỗi thang đo nhân tố đưa ra 05 nội dung tiêu biểu nhằm đánh giá theo khía cạnh riêng, cụ thể: Luan van 10 Hình 1.
Chỉ số mô tả công việc của Smith, Kendall và Hullin Chỉ số mô tả công việc của Smith là một trong những công cụ đặc trưng trong đo lường sự thỏa mãn công việc, và được sử dụng rộng rãi. Theo Smith, mức độ thỏa mãn công việc của một người là thái độ ảnh hưởng và ghi nhận của người đó về các khía cạnh khác nhau trong công việc, được đo lường thông qua các nhân tố: tiền lương, cơ hội đào tạo – thăng tiến, đồng nghiệp, cấp trên và đặc điểm công việc. Đây là một mô hình có nội dung tốt, các khái niệm có cơ sở vững chắc và đáng tin cậy. Chỉ trong vòng 20 năm cuối thế kỷ 20, JDJ được sử dụng trong hơn 600 nghiên cứu đã được công bố (Ajmi, 2001).
Mô hình này đã được áp dụng vào các nghiên cứu của các tác giả. Tiêu chí đo lường thỏa mãn MSQ của Weiss (1967) Các nhà nghiên cứu Weiss và đồng nghiệp của trường Đại học Minnesota thì đưa ra các tiêu chí đo lường sự thỏa mãn công việc thông qua Bảng câu hỏi thỏa mãn Minnesota (Minnesota Satisfaction Questionnaire), đưa ra 02 khía cạnh phân tích thang đo nhân tố: (a) Các nhân tố thỏa mãn Luan van 11 thuộc bản chất bên trong; (b) Các nhân tố thỏa mãn thuộc bản chất bên ngoài. (c) Ngoài ra, đưa ra tiêu chí chung để đo lường mức hài lòng của người lao động. Sau đây là một số nội dung bảng câu hỏi được thể hiện như sau: Hình 1.
Tiêu chí đo lường thỏa mãn công việc MSQ của Weiss c. Nghiên cứu của Spector (JSS - Job Satisfaction Survey) (1985) Các mô hình trước JSS được áp dụng cho các doanh nghiệp sản xuất đều cho kết quả khá thấp chính vì thế Spector (1997) đã xây dựng một mô hình riêng cho các nhân viên trong lĩnh vực dịch vụ, gồm 9 yếu tố đánh giá mức độ hài lòng và thái độ như: (1) Lương, (2) Cơ hội thăng tiến, (3) Điều kiện làm việc, (4) Sự giám sát, (5) Đồng nghiệp, (6) Yêu thích công việc, (7) Giao tiếp thông tin, (8) Phần thưởng bất ngờ, (9) Phúc lợi. Nó được phát triển và ứng dụng chủ yếu ở phòng nhân sự của các tổ chức dịch vụ và các tổ chức phi lợi nhuận như: bệnh viện, trung tâm chăm sóc sức khỏe. Đo lường về sự hài lòng tổng thể (JIG) Job in General (JIG) scale bao gồm 18 mục mô tả cảm nhận chung, được đánh giá là một công cụ thích hợp để đánh giá mức độ hài lòng tổng thể của nhân viên (Spector,1997).Michigan Organizational Assessment Questionnaire.
Luan van 12 Satisfaction Subscale đã sử dụng 3 biến sau để đánh giá mức độ hài lòng chung: (a) Nói chung, tôi cảm thấy hài lòng với công việc; (b) Về tổng thể, tôi không thích công việc mình đang làm; (c) Về tổng thể, tôi thích làm việc ở đây. Độ tin cậy của thang đo được chứng mình thông qua rất nhiều nghiên cứu, các nghiên cứu đều chỉ ra thang đo này có hệ số tương quan cao đối với các biến công việc (Jex & Gudanowski,1992; Spector và ctg, 1988). Định nghĩa quy mô chung của công việc( JIG) là một phương pháp của sự hài lòng của nhân viên và phát triển như một biện pháp toàn cầu của sự thỏa mãn trong công việc. JIG là tương tự như JDI.
Các JDI, giới thiệu năm 1969 bởi Smith, Kendall, Hulin, đã được sửa đổi vào năm 1985 bởi tập đoàn nghiên cứu JDI. Năm 1996, Tập đoàn nghiên cứu JDI cải thiện phương pháp này. Các tiêu chí để lựa chọn 18 mục cuối cùng là: (a) các nhân tố vượt trội so với các nhân tố thiết yếu, và (b) tổng số tương quan giữa các nhân tố vượt trội. Các công việc trong Quy mô chung (JIG) đã được phát triển vào đầu những năm 1990 để cung cấp một đánh giá tổng thể của nhân viên cảm thấy công việc của họ, bổ sung cho chẩn đoán việc làm Chỉ số mô tả về các khía cạnh cụ thể của sự hài lòng công việc của nhân viên.
Đó là toàn cầu, đánh giá, và sử dụng một quan điểm thời gian JDI. Kết quả là, nó đã được tìm thấy luôn tương quan cao với các biện pháp mang tính toàn cầu như ý định rời khỏi, sự hài lòng của cuộc sống, xác định với các tổ chức công việc, và tin tưởng trong quản lý. JIG trải qua một đánh giá toàn diện và cập nhật trong tháng 1 năm 2009. Điều này dẫn đến những thay đổi nhỏ trong một số những câu hỏi nhân viên công việc khảo sát sự hài lòng bao gồm các chỉ số, cập nhật các chỉ tiêu trên toàn quốc, và các chỉ tiêu nhân khẩu học mới.
Định mức cũng được thêm cho các nhóm ngành công nghiệp cụ thể. JIG hỏi 18 câu hỏi có thể được trả lời chỉ trong một vài phút. Các câu hỏi JIG được tự động bao gồm các JDI để sử dụng lao động có thể đánh giá cả hai thỏa mãn của nhân viên công việc Luan van 13 tổng thể cũng như sự thỏa mãn trong công việc trong phạm vi khía cạnh khác nhau của môi trường làm việc. Chỉ số công việc tổng thể mô tả các biện pháp thái độ công việc bao gồm các công việc trong quy mô (JIG) General, một thước đo của sự hài lòng toàn cầu với công việc của một người.
Quy mô ban đầu được phát triển và xác nhận bởi Ironson, Smith, Brannick, Gibson, và Paul. Sau thủ tục giảm quy mô cấu trúc phát triển bởi Stanton, Sinar, Balzer, và Smith, các tác giả hiện nay đã phát triển một phiên bản rút gọn của JIG sử dụng bởi các học viên và các nhà nghiên cứu hành vi tổ chức. Họ báo cáo kết quả của ba nghiên cứu xác nhận tài liệu quá trình giảm quy mô và phù hợp tâm lý của quy mô giảm chiều dài. Sự hài lòng công việc như một chỉ số về chất lượng công việc.
Mặc dù sự hài lòng công việc nổi lên như là một chỉ số về chất lượng công việc, đề xuất của Hội đồng châu Âu vào năm 2001, như đã được vạch ra vào lúc bắt đầu của báo cáo này, một bài báo nghiên cứu Tây Ban Nha (Llorente và Macias, năm 2003) kết luận rằng có ít hoặc không có mối tương quan giữa sự hài lòng của công việc và chất lượng công việc. Hai phương pháp tiếp cận được theo dõi trong bài viết này để đánh giá tính đầy đủ của việc sử dụng sự hài lòng của công việc như là một chỉ số về chất lượng công việc. Đầu tiên, bằng cách sử dụng các ISSP năm 1997, các tác giả khám phá xem sự khác biệt giữa các nước trong điều khoản của sự thỏa mãn trong công việc có thể được giải thích bằng các công việc liên quan đến chất lượng các biến, chẳng hạn như thời gian làm việc, tiền lương, vv Thứ hai, sử dụng SQLW Tây Ban Nha năm 2000 như một nghiên cứu trường hợp , các tác giả nghiên cứu mối quan hệ giữa các biện pháp khách quan nhất định của chất lượng công việc và sự hài lòng công việc.