MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Hiện nay trong số các loại rau, măng tây là loại thực phẩm cao cấp chứa hàm lượng dinh dưỡng cao và có nhiều dược tính. Ngoài các chất như: chất xơ, đạm, glucid, các vitamin K, C, A, B1, B2, các chất khoáng cần thiết cho cơ thể con người như: kali, magne, canxi, sắt, kẽm… Rất tốt cho bà mẹ mang thai. Có tác dụng giúp cơ thể tránh được các bệnh về tim, đột quỵ, ổn định huyết áp và ngăn ngừa một số bệnh ung thư, hạn chế hiệu quả các bệnh liên quan đến đường ruột đặc biệt là viêm ruột thừa.
Các kết quả nghiên cứu cho thấy, đạm có vai trò quan trọng trong việc phát huy hiệu quả của việc sử dụng phân bón cho cây trồng. Các loại phân khác chỉ phát huy tác dụng khi có đủ đạm hay bón cân đối đạm theo nhu cầu của cây. Vì vậy, khi xác định các loại phân bón khác cần dựa trên cơ sở lượng đạm bón. Nếu chưa tăng được lượng phân đạm bón thì chưa tăng lên các loại phân bón khác.
Tại Đồng Hỷ - Thái Nguyên cây măng tây xanh vẫn còn là cây trồng khá mới. Chưa có quy trình thâm canh cụ thể cho cây măng tây xanh, việc sử dụng phân bón phần lớn phụ thuôc vào điều kiện kinh tế và kinh nghiệm của người dân. Chính điều này đã ảnh hưởng lớn đến năng suất và chất lượng của loại cây này. Nhìn chung, việc xác định liều lượng đạm cân đối cho măng tây xanh sinh trưởng và phát triển tốt, tránh lãng phí gây ô nhiêm môi trường và ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm.
Đây cũng là cơ sở xây dựng và hoàn thiện một quy trình bón phân cân đối và hợp lý cho măng tây xanh tại huyện Đồng Hỷ - Thái Nguyên trong thời gian tới. Đứng trước những vấn đề trên, với quan điểm tìm ra được liều lượng đạm thích hợp nhất cho cây măng tây xanh, chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài 2 “Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng đạm đến sinh trưởng và phát triển của giống măng tây xanh UC157-F1 tại huyện Đồng Hỷ - Thái Nguyên”. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1. Mục tiêu Xác định được liều lượng đạm để giống măng tây xanh UC157-F1 sinh trưởng và phát triển tại huyện Đồng Hỷ - Thái Nguyên.
Yêu cầu Nghiên cứu ảnh hưởng của các liều lượng đạm đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng của giống măng tây xanh UC157-F1. Xác định ảnh hưởng của các liều lượng đạm đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất cây măng tây xanh tại huyện Đồng Hỷ - Thái Nguyên. Đánh giá tình hình dịch hại đối với cây măng tây xanh ở các liều lượng đạm khác nhau. Tính hiệu quả kinh tế ở các liều lượng đạm khác nhau.
Ý nghĩa khoa học của đề tài Góp phần cải thiện quy trình bón phân cho rau nói chung và cho măng tây nói riêng ở huyện Đồng Hỷ - Thái Nguyên, bước đầu chọn liều lượng đạm bón thích hợp cho măng tây xanh với điều kiện sinh thái tại địa phương và những vùng có điều kiện tương tự. Tiết kiệm được lượng phân đạm từ đó sử dụng tốt lượng phân đạm để phát triển sản xuất măng tây xanh, giảm chi phí về phân bón tăng hiệu quả kinh tế cho người trồng măng tây. Kết quả nghiên cứu là tiền đề có giá trị cho khoa học nghiên cứu và ứng dụng cho người sản xuất. 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học Măng tây xanh là một trong những cây trồng cần rất nhiều đạm. Đạm là yếu tố hạn chế đến năng suất măng tây ở nhiều nơi trên thế giới. Bón đạm làm tăng tuổi thọ cây măng mẹ, tiếp tục sinh ra măng mới và việc kéo dài tuổi thọ của từng măng. Đạm không chỉ tác động trực tiếp đến sự phát triển của măng và cây trồng, mà còn tác động gián tiếp đến cây trồng vì chúng tác động đến sâu bệnh và cỏ dại.
Bón đạm làm cho cây trồng sinh trưởng, phát triển tốt hơn nhưng cũng làm tăng sâu bệnh và cỏ dại. Bón đạm quá mức làm tăng sức sống và chất lượng hạt. Điều này có ý nghĩa hết sức quan trọng trong công tác nhân giống bằng hạt. Như vậy, đạm tác động mạnh đến quá trình sinh trưởng, phát triển năng suất măng tây.
Hiệu quả của việc bón đạm còn tùy thuộc vào liều lượng và kỹ thuật bón. Vì vậy, cần phải xác định liều lượng đạm hợp lý, làm cơ sở xây dựng một quy trình bón phân cân đối, nhằm góp phần nâng cao năng suất cây măng tây, tăng thu nhập cho người sản xuất, ổn định sản xuất nông nghiệp và bền vững môi trường. Nguồn gốc và đặc tính sinh thái Cây măng tây (Asparagus) có nguồn gốc ở bờ biển phía tây Châu Âu (từ miền bắc Tây Ban Nha tới phía Bắc Ai-len, Anh, và phía tây bắc nước Đức) nên chúng ta quen gọi là măng tây để phân biệt với măng ta (măng tre) và đã được trồng ở Aswan (Ai Cập) khoảng 20.000 năm trước đây. Người ta đã dùng măng tây như một loại rau và thuốc men, do hương vị tinh tế và nhiều dược tính có lợi của nó, được sử dụng trên một vùng của Ai Cập có niên đại 3000 trước Công Nguyên.
Ở thời cổ đại, nó được biết đến ở Syria và ở Tây Ban Nha. 4 Cây măng tây được Alexander phát hiện vào khoảng 300 năm trước Công Nguyên có nguồn gốc từ vùng Trung Đông, và đem về trồng đầu tiên ở Hy Lạp, sau đó được trồng ở Roma. Theo Boswell, Sturtevant và Vavilov thì nguồn gốc của măng tây là Địa Trung Hải và Tiểu Á (M. Đầu tiên măng tây chỉ được biết với tính năng như một loại thảo dược dùng làm thuốc để chữa các bệnh về tim, phù thũng, đau răng.
Sau đó cũng chính người Hy Lạp đã sử dụng măng tây như một loại rau cao cấp vào những năm 200 trước Công Nguyên (Mai Thị Phương Anh, 2001)[1]. Ở thời Trung Cổ măng tây không được quan tâm nhiều cho đến thế kỷ 16 cây măng tây là một trong những cây mà vua Louis IV ưa thích thì cây măng tây bắt đầu được trồng tại Pháp với diện tích ngày càng tăng (Leah, 2011). Ở Việt Nam măng tây du nhập vào những năm 1970, và sau đó được trồng thử nghiệm tại một số vùng như Đông Anh (Hà Nội), Kiến An (Hải Phòng), Đức Trọng (Lâm Đồng),… và trong những năm gần đây được trồng phổ biến ở Củ Chi, Hóc Môn (Tp. Hồ Chí Minh), Bến Lức, Đức Hoà (Long An), Tây Ninh, Long Thành, Long Khánh (Đồng Nai), Hàm Thuận Nam, Hàm Thuận Bắc (Bình Thuận), Bạc Liêu, Cái Mơn (Bến Tre), Tiền Giang, Trà Vinh, Vĩnh Phúc,.
nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Điều kiện khí hậu thích hợp cho sinh trưởng và phát triển cho thu hoạch quanh năm ở miền Nam là một lợi thế để tạo nguồn ra nguồn sản phẩm cung ứng thị trường trong nước và hướng tới mục tiêu xuất khẩu. Măng tây là cây dạng bụi, thân thảo, lá kim. Cây có hoa đơn tính màu vàng, quả màu đỏ vỏ hạt cứng, thích hợp vùng khí hậu nhiệt đới.
Hạt măng tây có thể nảy mầm ở 20oC, dưới 15oC hạt không nảy mầm. Theo số liệu nghiên cứu của Yenet và cộng sự, (1992) nhiệt độ thích hợp cho măng tây nảy 5 mầm là khoảng 25 – 30oC. Nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng của cây là 18,3 – 29,5oC, ngoài ngưỡng nhiệt độ này sẽ ức chế cây sinh trưởng. Măng tây có thể chịu được lạnh nhưng dưới 10oC cây ngừng phát triển, thích hợp với những vùng có cường độ ánh sáng mạnh, là cây ưa ẩm độ ẩm thường xuyên đạt từ 80 - 85% sẽ kích thích măng tây ra nhiều mềm ngọt, nhưng độ ẩm không khí cao sẽ làm cây mềm yếu dễ nhiễm bệnh (Mai Thị Phương Anh, 2001) [1].
Măng tây thích hợp với các loại đất cát pha hoặc thịt nhẹ, tơi xốp, có khả năng thoát nước tốt, pH thích hợp từ 6,5–7,5 hoặc trung tính. Măng tây được trồng ở cả vùng đồng bằng và vùng núi, thích hợp nhất là ở độ cao 600 – 900m so với mực nước biển. Ngoài ra măng tây còn có khả năng chịu mặn và sương giá, những vùng có độ mặn tương đối cao cây vẫn giữ được năng suất (Mai Thị Phương Anh, 2001)[1]. Phân loại và đặc điểm thực vật 2.
Phân loại Ngành: Magnoliophita Lớp: Liliospida Bộ: Asparagales Họ: Asparagaceae Chi: Asparagus Loài: Asparagus officinalis L. Bộ Măng tây (Asparagales) là một bộ trong lớp thực vật một lá mầm bao gồm một số họ cây không thân gỗ. Trong các hệ thống phân loại cũ, các họ thuộc bộ Asparagales hiện nay đã từng được xếp vào bộ Loa kèn (Liliales), và một số chi trong đó thậm chí còn được xếp vào trong họ Loa kèn (Liliaceae). Một số hệ thống phân loại còn tách một số họ được liệt kê dưới đây thành các bộ khác, bao gồm cả các bộ Phong lan (Orchidales) và bộ Diên 6 vĩ (Iridales), trong khi các hệ thống khác, đặc biệt là hệ thống phân loại của APG lại đưa hai bộ Orchidales và Iridales vào trong bộ Asparagales.
Bộ này được đặt tên theo chi Asparagus (măng tây) (Wikipedia, 2012) [15]. Theo Mai Thị Phương Anh (2001)[1], một loài măng tây (có thể là Asparagus officinalis altilis nhưng có khả năng nhiều hơn là A.martimus) đã được trồng trong vườn rau của người La Mã. Từ các loài măng tây hoang dại chỉ có A. officinalis là loài trồng trọt cho rau xanh.
Springeri là loài có tính chống chịu cao với nấm Fusarium spp. nhưng không lai được với A. Hầu hết các giống được trồng hiện nay là các giống thuộc loài A.officinalis với một số đặc điểm hình thái học khác nhau và khác nhau kể cả tính thích ứng với từng địa phương. Đặc điểm thực vật Theo Bailey thì măng tây là một chi lớn (khoảng 150 loài) dạng cây thân thảo lưu niên có thân gỗ leo, mềm, được trồng hầu như cho mục đích lấy cành lá làm cây cảnh.
Cây cao khoảng 1,3 – 3,8 m, có thể sống từ 15 – 20 năm, khi cây mọc cao thân ngã màu xanh và phân cành nhiều (Mai Thị Phương Anh, 2001)[1]. Lá măng tây thuộc loại lá không phát triển, thoát nước ít nên có khả năng chịu hạn,rễ chính rất ngắn và chết ngay sau khi hạt nảy mầm, chỉ có rễ trụ đứng thẳng, các rễ khác mọc ngang tạo thành một hệ chùm rễ. Măng được hình thành gần rễ trụ, đây là nơi tập trung chất dinh dưỡng khi cây còn non (Nguyễn Thị Sao, 2008)[11]. Măng tây là cây đơn tính biệt chu, nhị hoa đực và nhụy hoa cái không hoàn chỉnh, chỉ có một số ít trong số các hoa đậu quả được.