Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong cơ cấu bữa ăn hàng ngày, rau xanh là nhóm thực phẩm cung cấp nguồn vitamin, khoáng chất và chất xơ quan trọng, góp phần cân bằng dinh dưỡng. Cây dưa leo (Cucumis sativus L.) thuộc họ Bầu bí (Cucurbitaceae) là một trong những loại rau ăn quả được gieo trồng phổ biến, tiêu thụ dưới dạng quả tươi, chế biến món ăn hoặc muối chua đóng hộp phục vụ nhu cầu nội địa và xuất khẩu. Do dưa leo có đặc tính ra hoa đậu quả và cho thu hoạch nhiều đợt liên tục trong thời gian dài, việc đảm bảo thời gian cách ly an toàn sau khi sử dụng phân bón hóa học (đặc biệt là phân đạm) và thuốc bảo vệ thực vật gặp nhiều trở ngại trong thực tế sản xuất.
Thực trạng canh tác tại nhiều địa phương cho thấy người nông dân còn thói quen bón phân mất cân đối, tập trung vào hình thái bên ngoài của cây mà lạm dụng đạm vô cơ và thuốc bảo vệ thực vật hóa học. Điều này dẫn đến nguy cơ tồn dư nitrat, kim loại nặng, làm ô nhiễm môi trường đất, nước và ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe người tiêu dùng. Việc nghiên cứu ứng dụng các chế phẩm sinh học bón qua lá nhằm cung cấp dinh dưỡng bổ sung, tăng cường sức đề kháng và nâng cao năng suất, chất lượng dưa leo an toàn là yêu cầu cấp thiết.
Khóa luận xác định các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:
- Đánh giá ảnh hưởng của một số loại chế phẩm sinh học đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng của cây dưa leo.
- Xác định được chất lượng các chế phẩm sinh học trong sản xuất thực tiễn và tuyên truyền việc ứng dụng công nghệ sạch trong sản xuất đến nông dân.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài bao gồm:
- Đối tượng nghiên cứu: Giống cây dưa leo lai F1 (Cucumis sativus L.) và 3 loại chế phẩm sinh học (A4, Antonik, Vườn sinh thái).
- Phạm vi không gian: Vườn thực nghiệm Sinh – Bảo vệ thực vật, Khoa Lý – Hóa – Sinh, Trường Đại học Quảng Nam (phường An Mỹ, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam).
- Phạm vi thời gian: Vụ Đông – Xuân, từ tháng 09/2016 đến tháng 04/2017.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận dựa trên cơ sở khoa học về dinh dưỡng khoáng và sinh lý thực vật: bên cạnh bộ rễ, các cơ quan khí sinh như thân, cành và đặc biệt là lá có khả năng hấp thu dinh dưỡng hòa tan qua hệ thống khí khổng với hiệu suất sử dụng đạt tới 95% (trong khi bón qua đất cây chỉ hấp thu được khoảng 45 – 60%). Đặc tính sinh học của dưa leo là cây thân thảo leo bò, rễ phân bố nông (15 – 20 cm), ưa ẩm (ẩm độ đất 85 – 95%, ẩm độ không khí 90 – 95%), nhiệt độ thích hợp ban ngày khoảng 30°C và ban đêm 24 – 26°C, mẫn cảm với úng ngập và hạn hán.
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm được thiết kế và triển khai cụ thể:
- Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm đồng ruộng được thiết kế theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên (Randomized Complete Block Design – RCBD) gồm 4 công thức, mỗi công thức lặp lại 3 lần (tổng cộng 12 ô thí nghiệm). Mỗi ô thí nghiệm có diện tích 3,96 m² trồng 4 cây; tổng diện tích thí nghiệm bao gồm cả dải bảo vệ và cách ly là 22,7 m².
- CTĐC (Đối chứng): Không sử dụng chế phẩm sinh học.
- CT1: Phun chế phẩm sinh học A4 (chứa các nguyên tố đa lượng, trung lượng, vi lượng và chất điều hòa sinh trưởng).
- CT2: Phun chế phẩm sinh học Antonik (chứa các hợp chất nitro thơm: Sodium-S-Nitrogualacolate 0,03%, Sodium-O-Nitrophenolate 0,06%, Nitrophenol 0,09%).
- CT3: Phun chế phẩm sinh học Vườn sinh thái (chứa acid amin 104 g/l, Zn 9,...).
- Quy trình bón phân và xử lý chế phẩm: Bón lót đồng đều cho toàn bộ 22,7 m² gồm 22 kg phân chuồng hoai mục, 2,4 kg vôi và 0,68 kg lân. Bón thúc chia làm 2 lần kết hợp tưới phân urea, kali và phun chế phẩm sinh học qua 4 thời kỳ: xử lý đất trước khi trồng, sau trồng 15 ngày, 25 ngày và 35 ngày.
- Phương pháp thu thập chỉ tiêu:
- Chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển: Đếm số lá, đo diện tích lá theo phương pháp cân nhanh (dùng giấy chuẩn 1 dm²), đo chu vi thân để tính đường kính thân theo công thức $d = c / \pi$, đếm số cành cấp 1-2, ghi nhận thời gian ra tua cuốn và đếm số hoa cái.
- Chỉ tiêu sinh lý – sinh hóa: Xác định trọng lượng tươi bằng cân kỹ thuật; xác định trọng lượng khô bằng phương pháp sấy ở 105°C trong 2 – 3 giờ, sau đó duy trì ở 80 – 90°C đến khi khối lượng không đổi; tính hàm lượng nước tổng số theo công thức $M = [(m_1 - m_2) / m_1] \times 100%$.
- Chỉ tiêu năng suất và phẩm chất: Theo dõi số quả/cây, khối lượng quả trung bình, đường kính quả, chiều dài quả và số quả bị sâu bệnh hại qua các đợt thu hoạch.
- Phương pháp xử lý số liệu: Tính toán các tham số thống kê sinh học bao gồm giá trị trung bình mẫu ($\bar{X}$), độ lệch chuẩn ($\sigma$/SD) và kiểm định giả thuyết thống kê ($t$-test) trên phần mềm Microsoft Excel.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương 1 hệ thống hóa điều kiện tự nhiên tại thành phố Tam Kỳ và các cơ sở lý luận liên quan đến đề tài:
- Điều kiện tự nhiên và khí hậu vụ Đông Xuân 2016 – 2017: Tam Kỳ nằm ở tọa độ 15º34'33”B, 108º28'30”Đ, địa hình nghiêng từ Tây Nam sang Đông Bắc. Trong vụ Đông Xuân 2016 – 2017, nhiệt độ trung bình các tháng dao động từ 22,6°C (tháng 12) đến 26,6°C (tháng 10); độ ẩm không khí duy trì ở mức cao từ 83% đến 96%; lượng mưa tập trung lớn vào các tháng cuối năm 2016 (tháng 10 đạt 528,7 mm; tháng 11 đạt 565,2 mm; tháng 12 đạt đỉnh 1205,3 mm) và giảm mạnh vào đầu năm 2017 (tháng 3 chỉ còn 12,8 mm).
- Đặc tính sinh học, giá trị dinh dưỡng và kỹ thuật canh tác: Khái quát nguồn gốc dưa leo từ Ấn Độ, phân loại thực vật học, yêu cầu sinh thái về nhiệt độ, ánh sáng ngày ngắn (10 – 12 giờ/ngày, cường độ 15.000 – 17.000 lux) và đất cát pha/thịt nhẹ pH 5,5 – 6,5. Phân tích các loại sâu bệnh hại chính như bọ trĩ, sâu xanh ăn lá, bệnh thối trái non do nấm Choanephora cucurbitarum hoặc Phytophthora sp., bệnh thối gốc do nấm Fusarium solani.
- Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước: Trình bày các thành tựu nhân giống in vitro, chuyển gen kháng bệnh (ZYMV, gen GUS) trên thế giới; tình hình chọn tạo các giống dưa leo lai tại Việt Nam (CV209-2, CV29, Cuc 70, Cuc 71, PC4 cho năng suất 40 – 50 tấn/ha); tình hình sử dụng và quản lý các loại chế phẩm phân bón lá sinh học tại Việt Nam.
Chương 2: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết vật liệu, hóa chất, dụng cụ và thiết kế thí nghiệm:
- Vật liệu và chế phẩm: Sử dụng giống dưa leo F1 cùng 3 loại chế phẩm A4, Antonik, Vườn sinh thái (VST) với liều lượng 4 ml chế phẩm cho mỗi công thức (tổng 3 ô).
- Quy trình thí nghiệm: Thiết kế sơ đồ 12 ô ngẫu nhiên, quy định định mức phân bón lót và bón thúc cụ thể cho từng ô và toàn bộ diện tích 22,7 m².
- Phương pháp xác định chỉ tiêu và công thức thống kê: Trình bày quy chuẩn đo đếm hình thái qua 3 đợt (25, 35, 45 ngày sau trồng), quy trình sấy mẫu sinh lý ở các thang nhiệt độ 105°C và 80 – 90°C, công thức tính toán năng suất và các công thức toán học thống kê sinh học ($\bar{X}$, $\sigma$, kiểm định $t$).
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và biện luận
Chương 3 trình bày các số liệu thực nghiệm thu thập được và phân tích cơ chế tác động của chế phẩm:
- Chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển:
- Số hoa cái: Ở đợt đo 3 (45 ngày sau trồng), CT3 đạt số hoa cái cao nhất (19,67 ± 2,08 hoa/cây, tăng 28,31% so với CTĐC), tiếp theo là CT1 (18,33 ± 3,05 hoa/cây) và CT2 (16,67 ± 6,11 hoa/cây), trong khi CTĐC chỉ đạt 15,33 ± 1,53 hoa/cây.
- Số lá: Sau 45 ngày trồng, CT2 có số lá nhiều nhất đạt 29,00 ± 2,65 lá/cây (tăng 17,55% so với CTĐC), CT1 đạt 28,00 ± 1,73 lá/cây (tăng 13,50%), CT3 đạt 26,00 ± 3,46 lá/cây, CTĐC thấp nhất với 24,67 ± 3,79 lá/cây.
- Diện tích lá: Ở giai đoạn 45 ngày, CT1 đạt diện tích lá lớn nhất (0,83 ± 0,025 dm², tăng 18,57% so với CTĐC), CT3 đạt 0,80 ± 0,015 dm² và CT2 đạt 0,78 ± 0,025 dm², vượt trội so với CTĐC (0,70 ± 0,02 dm²).
- Đường kính thân và số cành: CT2 đạt đường kính thân lớn nhất ở giai đoạn 45 ngày (0,74 ± 0,05 cm, tăng 15,63% so với CTĐC là 0,64 cm) và số cành cao nhất (2,17 ± 0,41 cành/cây so với CTĐC là 1,00 ± 0,63 cành/cây).
- Thời gian ra tua cuốn: Biến động từ 14,67 ngày (CT3), 15,67 ngày (CT1), 16,00 ngày (CT2) đến 17,00 ngày (CTĐC).
- Chỉ tiêu sinh lý – sinh hóa:
- Trọng lượng tươi: Sau 45 ngày, CT2 đạt 261,58 ± 10,85 g (tăng 12,64% so với CTĐC), CT1 đạt 258,66 ± 10,95 g, CT3 đạt 256,27 ± 9,95 g, CTĐC đạt 232,22 ± 8,82 g.
- Trọng lượng khô: CT2 dẫn đầu với 36,31 ± 0,60 g (tăng 4,28% so với CTĐC là 34,82 ± 0,72 g), CT3 đạt 35,47 ± 1,52 g và CT1 đạt 35,10 ± 1,49 g.
- Hàm lượng nước tổng số: Sau 45 ngày, dao động từ 84,42% (CT1), 85,81% (CT3), 86,25% (CT2) đến 87,71% (CTĐC).
- Chỉ tiêu năng suất và chất lượng:
- Số quả/cây: Ở lần thu hoạch thứ 2, CT1 đạt số quả cao nhất với 12,50 ± 3,11 quả/cây (tăng 72,41% so với CTĐC), CT3 đạt 10,75 ± 2,06 quả/cây (tăng 48,28%), CT2 đạt 10,00 ± 0,82 quả/cây (tăng 37,93%), CTĐC chỉ đạt 7,25 ± 2,22 quả/cây.
- Khối lượng quả: Lần thu thứ 2 ghi nhận CT1 đạt khối lượng cao nhất (2666,7 ± 251,7 g, tăng 45,46% so với CTĐC), CT3 đạt 2533,3 ± 321,56 g (tăng 38,18%), CT2 đạt 2266,7 ± 305,5 g (tăng 23,64%), CTĐC đạt 1833,3 ± 351,2 g.
- Kích thước quả: CT3 đạt đường kính quả 4,17 ± 0,29 cm và chiều dài quả 19,02 ± 0,05 cm; CT1 đạt đường kính 3,92 ± 0,14 cm và chiều dài 18,94 ± 0,25 cm; CTĐC đạt đường kính 3,67 ± 0,38 cm và chiều dài 18,75 ± 0,17 cm.
- Tình hình sâu bệnh: Ở lần thu thứ 2, số quả bị sâu bệnh ở các công thức sử dụng chế phẩm (CT3: 1,0 quả; CT2: 1,5 quả; CT1: 2,0 quả) thấp hơn so với đối chứng CTĐC (2,5 quả/cây).
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã chứng minh việc bổ sung các chế phẩm sinh học qua lá giúp tăng cường khả năng trao đổi chất, nâng cao các chỉ tiêu sinh trưởng thân lá, số lượng hoa cái và các yếu tố cấu thành năng suất của cây dưa leo F1 so với công thức đối chứng không sử dụng chế phẩm.
| Chỉ tiêu theo dõi (Giai đoạn cuối / Thu hoạch đợt 2) |
CTĐC (Đối chứng) |
CT1 (Chế phẩm A4) |
CT2 (Antonik) |
CT3 (Vườn sinh thái) |
| Số hoa cái (hoa/cây) |
15,33 ± 1,53 |
18,33 ± 3,05 |
16,67 ± 6,11 |
19,67 ± 2,08 |
| Số lá (lá/cây) |
24,67 ± 3,79 |
28,00 ± 1,73 |
29,00 ± 2,65 |
26,00 ± 3,46 |
| Diện tích lá (dm²) |
0,70 ± 0,02 |
0,83 ± 0,025 |
0,78 ± 0,025 |
0,80 ± 0,015 |
| Đường kính thân (cm) |
0,64 ± 0,02 |
0,70 ± 0,09 |
0,74 ± 0,05 |
0,70 ± 0,05 |
| Số cành (cành/cây) |
1,00 ± 0,63 |
1,50 ± 0,55 |
2,17 ± 0,41 |
1,17 ± 0,75 |
| Trọng lượng tươi (g) |
232,22 ± 8,82 |
258,66 ± 10,95 |
261,58 ± 10,85 |
256,27 ± 9,95 |
| Trọng lượng khô (g) |
34,82 ± 0,72 |
35,10 ± 1,49 |
36,31 ± 0,60 |
35,47 ± 1,52 |
| Số quả/cây (quả) |
7,25 ± 2,22 |
12,50 ± 3,11 |
10,00 ± 0,82 |
10,75 ± 2,06 |
| Khối lượng quả (g) |
1833,3 ± 351,2 |
2666,7 ± 251,7 |
2266,7 ± 305,5 |
2533,3 ± 321,56 |
| Chiều dài quả (cm) |
18,75 ± 0,17 |
18,94 ± 0,25 |
18,56 ± 0,20 |
19,02 ± 0,05 |
| Số quả bị sâu bệnh (quả/cây) |
2,50 ± 0,71 |
2,00 |
1,50 ± 0,71 |
1,00 |
Các giải pháp và kiến nghị được tác giả đề xuất:
- Khuyến nghị người sản xuất ưu tiên sử dụng chế phẩm sinh học A4 (CT1) trong canh tác dưa leo do đem lại hiệu quả cao nhất về số quả và khối lượng quả thu hoạch, đồng thời có chi phí hợp lý, phù hợp với điều kiện kinh tế nông hộ.
- Cần chú trọng các khâu chăm sóc đồng bộ, làm đất tơi xốp, bón vôi cải tạo đất và tưới tiêu hợp lý nhằm tối ưu hóa hiệu lực của chế phẩm sinh học.
- Đề xuất tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về ảnh hưởng của các chế phẩm sinh học ở quy mô mở rộng.
Đóng góp của khóa luận:
- Cung cấp dẫn liệu thực nghiệm cụ thể về phản ứng sinh trưởng, sinh lý và năng suất của giống dưa leo F1 đối với 3 loại chế phẩm sinh học bón qua lá trong điều kiện tiểu khí hậu thực tế của thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
- Đưa ra cơ sở thực tiễn phục vụ định hướng sản xuất rau an toàn, giảm thiểu phân bón vô cơ và thuốc hóa học tại địa phương.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Thí nghiệm được thực hiện trong phạm vi một vụ Đông – Xuân duy nhất (2016 – 2017) trên quy mô diện tích vườn thực nghiệm nhỏ (22,7 m² với 12 ô thí nghiệm); chỉ tiêu phân tích chủ yếu dừng lại ở các thông số hình thái, sinh lý cơ bản và năng suất thực thu, chưa tiến hành phân tích sâu các chỉ tiêu hóa sinh trong quả (như hàm lượng vitamin C, đường, tồn dư nitrat hay kim loại nặng).
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu đánh giá hiệu lực của các chế phẩm sinh học trên các mùa vụ khác nhau trong năm (như vụ Xuân – Hè, Hè – Thu); thực hiện khảo nghiệm diện rộng trên đồng ruộng sản xuất đại trà và phân tích đầy đủ các chỉ tiêu an toàn vệ sinh thực phẩm của sản phẩm sau thu hoạch.
Giá trị tham khảo
Tài liệu khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho:
- Sinh viên và giảng viên: Thuộc các chuyên ngành Sư phạm Sinh – Kỹ thuật nông nghiệp, Nông học, Trồng trọt và Bảo vệ thực vật; đặc biệt hữu ích trong việc tham khảo phương pháp bố trí thí nghiệm khối ngẫu nhiên hoàn toàn (RCBD), kỹ thuật đo diện tích lá bằng phương pháp cân nhanh trên giấy chuẩn, quy trình sấy mẫu xác định sinh khối khô và phương pháp xử lý số liệu thống kê sinh học bằng Excel.
- Cán bộ kỹ thuật nông nghiệp và người trồng rau: Cung cấp thông tin thực chứng về liều lượng, chu kỳ phun và hiệu quả cụ thể của các chế phẩm sinh học A4, Antonik, Vườn sinh thái nhằm ứng dụng vào quy trình sản xuất dưa leo an toàn.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận tiến hành thử nghiệm những loại chế phẩm sinh học nào và thành phần chính của chúng gồm những gì?
Khóa luận thử nghiệm 3 loại chế phẩm: Chế phẩm A4 (gồm các nguyên tố đa lượng, trung lượng, vi lượng và chất điều hòa sinh trưởng); Chế phẩm Antonik (chứa các dẫn xuất nitro thơm gồm Sodium-S-Nitrogualacolate 0,03%, Sodium-O-Nitrophenolate 0,06%, Nitrophenol 0,09%); Chế phẩm Vườn sinh thái (chứa các acid amin hàm lượng 104 g/l và kẽm Zn 9 g/l).
2. Thí nghiệm được bố trí theo mô hình nào và kích thước các ô thí nghiệm được thiết kế ra sao?
Thí nghiệm được bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên (RCBD) với 4 công thức và 3 lần nhắc lại (tổng cộng 12 ô thí nghiệm). Mỗi ô thí nghiệm có diện tích 3,96 m² trồng 4 cây; tổng diện tích thí nghiệm toàn khu là 22,7 m² (bao gồm 9,74 m² diện tích cách ly và bảo vệ).
3. Trong các công thức thí nghiệm, công thức nào mang lại hiệu quả cao nhất về năng suất quả dưa leo?
Công thức CT1 (sử dụng chế phẩm sinh học A4) cho hiệu quả năng suất cao nhất. Ở lần thu hoạch thứ hai, CT1 đạt 12,50 quả/cây (tăng 72,41% so với đối chứng) và khối lượng quả đạt 2666,7 g (tăng 45,46% so với đối chứng).
4. Việc sử dụng chế phẩm sinh học có tác động như thế nào đến tỷ lệ sâu bệnh hại trên quả dưa leo?
Ở lần thu hoạch thứ hai, các công thức sử dụng chế phẩm sinh học ghi nhận số quả bị sâu bệnh thấp hơn so với đối chứng: CT3 (Vườn sinh thái) bị sâu hại ít nhất với trung bình 1,0 quả/cây; CT2 (Antonik) là 1,5 quả/cây; CT1 (A4) là 2,0 quả/cây; trong khi công thức đối chứng (CTĐC) có 2,5 quả/cây bị sâu bệnh.
5. Quy trình xác định trọng lượng khô và hàm lượng nước tổng số của cây dưa leo được thực hiện theo phương pháp nào?
Cây tươi sau khi nhổ được rửa sạch đất ở rễ, thấm khô nước và cân trọng lượng tươi ($m_1$). Sau đó, mẫu cây được sấy ở nhiệt độ 105°C trong 2 – 3 giờ, tiếp tục sấy ở 80 – 90°C đến khi khối lượng không đổi để thu trọng lượng khô ($m_2$). Hàm lượng nước tổng số ($M$) được tính theo công thức $M = [(m_1 - m_2) / m_1] \times 100%$.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Đoàn Thị Phong đã hoàn thành việc đánh giá thực nghiệm ảnh hưởng của 3 loại chế phẩm sinh học (A4, Antonik, Vườn sinh thái) đến sinh trưởng, sinh lý và năng suất của giống dưa leo F1 trong vụ Đông Xuân 2016 – 2017 tại thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam. Kết quả khẳng định việc phun chế phẩm sinh học qua lá giúp gia tăng kích thước thân lá, thúc đẩy ra hoa cái, tăng sinh khối tươi/khô và nâng cao rõ rệt số lượng cũng như khối lượng quả thu hoạch so với đối chứng không phun. Trong các công thức nghiên cứu, chế phẩm sinh học A4 thể hiện ưu thế vượt trội về các chỉ tiêu cấu thành năng suất và được đề xuất ứng dụng vào thực tiễn sản xuất nhằm thúc đẩy mô hình canh tác rau an toàn tại địa phương.