Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1. Sơ lược về cây cà chua 1. Giới thiệu VỊ trí phân loại của cây cà chua: Ngành hạt kin Angiospermae Lớp Eudicots Bộ Solanales Họ Solanaceae Chi Lycopersicon Loài Lycopersicon esculentum Mill Cà chua có vi hơi chua và là một loại thực pham chứa nhiều dinh dưỡng, giàu vitamin C và A, đặc biệt là giàu lycopene tốt cho sức khỏe.500 giống cà chua trồng cho các mục đích khác nhau, là loại cây chịu ấm, chế độ nhiệt độ tối hảo cho cây 21 - 24 'C, nếu nhiệt độ ban đêm thấp hơn ban ngày 4 - 5 °C thì cây cho nhiều hoa. Cà chua phát triển tốt với 7 giờ chiếu sáng, thích hợp trên đất có pH = 5,5 - 7,0.
Cà chua có thé cho thu hoạch khoảng 75 - 80 ngày ké từ khi gieo trồng, thời gian thu hoạch kéo dài 30 - 60 ngày tùy vào loại giống và điều kiện chăm sóc (Trung tâm khuyến nông Lâm Đồng, 2022). Tình hình sản xuất cà chua Bảng 1. Những quốc gia sản xuất cà chua nhiều nhất thế giới Quốc gia Sản lượng (triệu tân) Trung Quốc 61,5 Án Độ 19,4 Hoa Kỳ 12,6 Thổ Nhĩ Kì 12,2 Ai Cap 6,6 Tông cộng 112,3 (Nguôn: FAO, 2018) Năm 2016 diện tích trồng cà chua trên thế giới là hơn 4,85 triệu ha với sản lượng đạt khoảng 177 triệu tấn. Đến năm 2020 diện tích trồng cà chua trên thế giới là hơn 5,05 triệu ha với sản lượng khoảng 187 triệu tan (FAO, 2022).
Các khu vực trồng nhiều cà chua tại Việt Nam: Miền Bắc, Miền Trung, Tây Nguyên và Nam Bộ, diện tích ngày càng được mở rộng. Cà chua có năng suất trung bình từ 30 - 40 tan/ha, diện tích cà chua trong những năm gan đây dao động trong khoảng 23 - 25 ngàn ha, ước chừng 40 % ở phía Nam với diện tích khoảng 9.000 ha, trong đó Lam Đồng có diện tích lớn nhất khoảng 7000 ha, nhưng sản lượng chiếm hơn 50 % của cả nước với năng suất đạt từ 65 - 70 tan/ha (đối với canh tác ngoài đồng). Điều này cho thấy, việc phát triển cây cà chua ở Lâm Đồng là phù hợp với nhiều điều kiện khí hậu và thé nhưỡng cũng như kinh nghiệm canh tác của người nông dân (Bộ Khoa học và công nghệ, 2020). Tổng quan về thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) Thuốc BVTV là những hợp chất hoá học (vô cơ, hữu cơ), những chế phẩm sinh học (chat khang sinh, vi khuẩn, nắm, siêu vi trùng, tuyến trùng), những chat có nguồn gốc thực vật, động vật, được sử dụng dé bảo vệ cây trồng và nông sản, chống lại sự phá hại của những sinh vật gây hại (côn trùng, nhện, tuyến trùng, chuột, chim, thú rừng, nam, vi khuẩn, rong rêu, cỏ dại) (Chi cục trồng trọt và BVTV Phú Thọ, 2022).
Dư lượng thuốc BVTV Dư lượng thuốc BVTV là bất kỳ chất hóa học nào được chỉ định trong thực phẩm, hàng hóa nông nghiệp hoặc thức ăn chăn nuôi xuất hiện do sử dụng thuốc BVTV (FAO, 2019). Là liều lượng hoạt chất và các sản phẩm trung gian sau khi phân hủy có độc tính còn lưu lại trong nông sản, môi trường. Dư lượng này được tính bằng miligam hoặc microgam trong 1 kg nông sản. Mức dư lượng tối đa cho phép (Maximum Residue Limit - MRL) Mức dư lượng tối đa cho phép là lượng tối đa một loại thuốc BVTV được chấp nhận cho phép tồn tại trong nông sản thực phẩm.
Mức dư lượng tối đa cho phép được biểu thị bằng miligam thuốc BVTV trong một kilogram nông sản hang hóa (mg/kg) (FAO, 2019). Ở nhiều quốc gia, nếu MRL chưa được thiết lập thì áp dụng mức giới hạn mặc định là 0,01 mg/kg (giới hạn định lượng - LOQ). MRL có thể quy định khác nhau ở mỗi nước, tùy theo đặc điểm sinh lý, sinh thái và đặc điểm dinh dưỡng của người dân nước đó (Nguyễn Mạnh Chinh và cộng sự, 2005; Nguyễn Trần Oánh và cộng sự, 2008). Thời gian cách ly (Pre-harvest interval — P.) Thời gian cách ly là khoảng thời gian ngắn nhất từ khi phun thuốc lên cây cho đến khi thuốc phân hủy đạt mức dư lượng tối đa cho phép (Phạm Văn Biên và cộng sự, 2005; Nguyễn Trần Oánh, 2008).
Trong thực tế, thời gian cách ly được tính bằng ngày và được quy định là từ lần phun thuốc cuối cùng lên cây trồng cho đến ngày thu hoạch mà tại thời điểm đó dư lượng thuốc trên cây chỉ bé hơn hoặc bằng dư lượng tối đa cho phép. Thời gian cách ly khác nhau với từng loại thuốc trên mỗi loại cây trồng và nông sản, tùy theo tốc độ phân giải của thuốc trên cây trồng và nông sản đó. Không đảm bảo thời gian cách ly có thể gây ngộ độc cho người sử dụng nông sản có phun thuốc BVTV. Sự phân giải của thuốc bảo vệ thực vật Trong tự nhiên, sau khi sử dụng, thuốc BVTV được phân hủy bởi ánh sáng, nhiệt độ, các chât có tính kiêm và các vi sinh vật có ích trong đât, trong nước.
Tôc độ phân giải tùy thuộc đặc điểm hóa tính từng loại thuốc và điều kiện môi trường (Nguyễn Trần Oánh và cộng sự, 2008). Tính độc của thuốc bảo vệ thực vật Những chất khi xâm nhập và cơ thể sinh vật (người, động thực vat, vi sinh vật) với liều lượng nhỏ đã có thể gây ra những rối loạn về cấu trúc hay chức năng, làm chậm sự sinh trưởng phát triển, dan đến những tốn thất cho cơ thé hoặc tử vong. Như vậy, các thuốc BVTV dùng để tiêu diệt các loài địch hại đều là những chất độc, kể cả đối với người và các động vật khác (Phạm Văn Biên và cộng sự, 2005; Nguyễn Trần Oánh và cộng sự, 2008). Tình hình tiêu thụ thuốc BVTV trong và ngoài nước 1.
Trên thế giới Trong 10 năm gần đây ở 6 nước châu Á trồng lúa, nông dân sử dụng thuốc bảo vệ thực vật tăng 200 — 300 % mà năng suất không tăng. Hiện danh mục các hoạt chất BVTV trên thé giới đã là hàng ngàn loại, ở các nước thường từ 400 - 700 loại (Trung Quốc có 630 loại, Thái Lan có 600 loại). Tăng trưởng thuốc BVTV từ 2 — 3 %, Trung Quốc tiêu thụ hằng năm 1,5 - 1,7 triệu tan thuốc BVTV (Gifap, 2010). Các loại thuốc BVTV sử dụng ở Thái Lan chủ yếu thuộc nhóm 3, chỉ một số ít thuốc BVTV sinh học và thuốc BVTV có mức độc hại thấp là thuộc nhóm 2 và không có loại thuốc BVTV nao của Thai Lan thuộc nhóm 1.
Thái Lan đã không cấp chứng nhận đăng ký cho 96 loại thuốc BVTV và 96 loại thuốc này bị cắm trong sản xuất nông nghiệp của Thái Lan. Đây là con số khá cao so với các quốc gia khác trong khu vực (ở Việt Nam là 29, ở Lào là 55) (Schreinemachers, 2015). Trong nước Cả nước đã sử dụng 72,560 tan thuốc BVTV trong một năm, cả nước có trên 200 công ty sản xuất, kinh doanh thuốc BVTV, 93 nhà máy, cơ sở sản xuất thuốc và 28,750 cửa hàng, đại lý buôn bán thuốc BVTV, lượng thuốc Việt Nam sử dụng bằng 40 % mức sử dụng trung bình của 4 nước lớn dùng nhiều thuốc BVTV trên thế giới (Mỹ, Pháp, Nhật, Brazin) (Cục BVTV, 2010). Việt Nam chi tới 989 triệu USD dé nhập khẩu thuốc trừ sâu và nguyên liệu, tăng 36,4 % so với năm 2016.
Theo đó, nguồn nhập chủ yếu là từ Trung Quốc chiếm tới 52,6 % tông giá trị của mặt hàng này. Trung bình khoảng 5 năm trở lại đây, mỗi năm Việt Nam chi khoảng 500-700 triệu USD dé nhập khẩu nguyên liệu và thuốc trừ sâu từ Trung Quốc (Bộ NN-PTNT, 2017). Thuốc BVTV được bắt đầu sử dụng ở miền Bắc Việt Nam vào năm 1955. Nhanh chóng dập tắt các dịch sâu bệnh trên diện rộng như sâu đục thân lúa, rầy xanh truyền bệnh vàng lụi, ray nâu, bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá.
Nếu không có thuốc BVTV nhiều dich hại cây trồng có thé làm giảm 40 - 60 % năng suất trên diện rộng, cục bộ có thé mat trắng. Tuy nhiên, việc sử dụng thuốc BVTV ở nước ta tăng quá nhanh. Theo tính toán sơ bộ của ngành Nông nghiệp, mỗi năm nông dân ĐBSCL sử dụng hàng ngàn tan thuốc BVTV. Trung bình nông dân phun thuốc từ 5 - 8 lần/vụ, tương ứng với lượng bao bì, vỏ thuốc sử dụng khoảng 4 - 5 kg/ha.
Nhu vậy có thê thấy, VIỆC SỬ dụng thuốc bảo vệ thực vật ở nước ta trong vòng 10 năm lại đây, bên cạnh những thành tựu và ưu điểm cũng còn nhiều tồn tại do nguyên nhân khách quan và chủ quan (Cục BVTV, 2018). Con 5,19 % số hộ ding thuốc cấm, ngoài danh mục, 10,22 % không đúng thời gian cách ly, 51 % không thực hiện theo khuyến cáo của nhãn (Cục BVTV, 2010). Hiện nay có 1,563 sản pham thuốc trừ sâu trên thị trường Việt Nam được phép lưu hành thuộc 660 hoạt chất được áp dụng trong sản xuất nông nghiệp. Có 1,377 sản phẩm thuốc trừ bệnh thuộc 617 hoạt chất được phép sử dụng trên thị trường Việt Nam là một trong những nguyên nhân chính trong việc sử dụng tràn lan thuốc BVTV của người nông dân (Theo Thông tư số 19/2021/TT-BNNPTNT, 2021).
Hiện trạng nhiễm độc thuốc bảo vệ thực vật Có tới 1,563 sản phẩm thuốc trừ sâu trên thị trường Việt Nam được phép lưu hành (Thông tư số 19/2021/TT-BNNPTNT, 2021). Cùng với việc các nhà sản xuất và phân phối rất nhiều loại thuốc bảo vệ thực vật với nhiều tên thương mại khác nhau, và nguồn du nhập các hóa chất nông nghiệp cũng rất đa dạng vì vậy việc quản lý mặt hàng này gặp rất nhiều khó khăn. Đặc biệt, trên thị trường còn trôi nổi nhiều loại thuốc không rõ nguồn gốc, được nông dân sử dụng bừa bãi, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng nông sản, sức khỏe con người cũng như môi trường đất và nước. Còn 5,19 % số hộ dùng thuốc cam, ngoài danh mục, 10,22 % không đúng thời gian cách ly, 51 % không thực hiện theo khuyến cáo của nhãn (Cục BVTV, 2010).
Nông dan di mua thuốc và tự pha chế theo kinh nghiệm của bản thân, nhiều khi không theo quy trình hướng dẫn ghi trên bao bì, sử dụng thuốc BVTV không đúng kỹ thuật như: phun thuốc quá gan ngày thu hoạch nên thuốc chưa phân hủy hết; phun lượng thuốc quá nhiều, quá nồng độ khuyến cáo; sử dụng thuốc có độ độc cao, chậm phân hủy: sử dụng các loại thuốc cam sử dụng trên rau ăn quả; không đảm bảo đúng thời gian cách ly đã dé lại dư lượng trong nông sản sau thu hoạch. Theo Lê Thị Bích Thắng (2005), có 35 % nông dân sử dụng mà không đọc nhãn thuốc, có tới 91 % nông dân tìm hiểu cách sử dụng thuốc trực tiếp từ người bán thuốc.