MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Cây lúa (Oryza sativa L.) là cây lương thực lâu đời, phổ biến nhất trên thế giới. Cây lúa gắn liền với sự phát triển của loài người, xã hội phát triển, đời sống của người dân ngày càng được nâng cao, chất lượng ăn uống được cải thiện đáng kể nhất là khu vực thành thị, nhu cầu chất lượng thực phẩm đang được đặt lên hàng đầu. Việt Nam là nước nông nghiệp gắn liền với nền văn minh lúa nước.
Mặc dù là nước đứng thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu lúa gạo xong giá thành cạnh tranh thấp chưa mang lại hiệu quả cao cho người nông dân. Điều đó càng đòi hỏi phải nâng cao sản lượng và chất lượng lúa. Theo thống kê của FAO năm 2010, tổng diện tích lúa trên thế giới hiện nay gần 154 triệu ha, tổng sản lượng lúa gạo đạt trên 615 triệu tấn, cung cấp lương thực cho cả thế giới. Tuy nhiên, cùng với cuộc chạy đua nâng cao năng suất cây trồng con người đã lạm dụng rất nhiều loại phân hóa học.
Việc bón phân mất cân đối làm ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất nông nghiệp bền vững, làm kiệt quệ nguồn dinh dưỡng trong đất, ô nhiễm môi trường sinh thái. Bên cạnh đó giá thành phân bón bị leo thang, nhập khẩu nguyên liệu chế biến phân hóa học cao cũng làm ảnh hưởng không nhỏ đến chi phí sản xuất của người nông dân. Chính vì lẽ đó, để cải thiện tình hình nêu trên nên người ta đã nghiên cứu ra một loại chế phẩm sinh học mang tên NEB26. Chế phẩm sinh học NEB26 là loại siêu phân bón thế hệ mới do công ty AGMOR, Hoa Kỳ sản xuất.
NEB26 là loại phân bón hữu cơ có tác dụng tạo điều kiện phát triển các vi sinh vật có lợi trong đất, cây trồng sử dụng được nhiều dinh dưỡng hơn, tăng cường phát triển bộ rễ, tăng sức đề kháng, giúp cây trồng chống chịu sâu bệnh, tăng năng suất và chất lượng nông sản, tiết n 2 kiệm phân bón, giảm được lượng đạm Urê, bớt chi phí đầu tư. Ngoài ra, NEB26 còn thân thiện với môi trường và thân thiện với sản phẩm mà vẫn cho năng suất tốt. Để kiểm chứng được những vấn đề nêu trên về NEB26, tôi đã thực hiện đề tài:“ Nghiên cứu ảnh hưởng chế phẩm sinh học NEB26 đến sinh trưởng và phát triển giống lúa Nông lâm 7 vụ Mùa 2014 tại Trường Đại học Nông lâm – Thái Nguyên”. Mục tiêu nghiên cứu - Xác định liều lượng NEB26 thích hợp cho sinh trưởng và phát triển giống lúa Nông Lâm 7 vụ Mùa 2014 tại Trường Đại học Nông lâm.
Yêu cầu - Đánh giá ảnh hưởng của chế phẩm sinh học NEB26 đến sinh trưởng, phát triển giống Nông lâm 7. - Đánh giá ảnh hưởng của các chế phẩm sinh học NEB26 đến mức độ biểu hiện sâu bệnh trên giống Nông lâm 7. - Đánh giá ảnh hưởng của chế phẩm sinh học NEB26 đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất giống Nông lâm 7. Ý nghĩa khoa học của đề tài Tìm ra các công thức sử dụng NEB26 thích hợp với sinh trưởng và phát triển giống Nông lâm 7 để thu được hiệu quả kinh tế cao nhất trong trồng trọt mà không làm ảnh hưởng đến môi trường sinh thái.
n 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài 2. Cơ sở khoa học của đề tài Một trong những tác nhân quan trọng làm tăng năng suất lúa là yếu tố phân bón. Những giống lúa mới năng suất cao yêu cầu nhiều dinh dưỡng đặc biệt là đạm, vì đạm là yếu tố dinh dưỡng quan trọng nhất.
Từ trước tới nay có rất nhiều nghiên cứu về bón phân cho lúa và các nghiên cứu này đều khẳng định là hiệu quả sử dụng phân đạm đối với lúa nước không cao, thông thường hiệu quả sử dụng phân đạm chỉ đạt xấp xỉ 40%. Nguyên nhân của hiệu quả sử dụng phân bón thấp là do đạm trong đất lúa bị mất đi qua các con đường sau: Do bốc hơi dưới dạng NH3, do rửa trôi bề mặt khi nước tràn bờ, do rửa trôi theo chiều sâu nhất là dạng nitrat (NO3-), bay hơi dưới dạng N2 do hiện tượng phản nitrat hoá. Do vậy , cần có một biện pháp bón phân hợp lý nhằ m làm giảm đáng kể lượng đạm bị mất đi, phù hợp với điều kiện kinh tế và canh tác của nông dân. Bón phân Urê kết hợp chế phẩm NEB26 được coi là một trong những phương pháp bón phân mang lại hiệu quả sử dụng phân bón cao do hạn chế thất thoát đạm trong canh tác lúa.
Phương pháp này đã được nhiều tổ chức quốc tế đề nghị áp dụng trên diện rộng ở các nước đang pháp triển trồng lúa. Một tiến bộ nữa đã và đang được áp dụng rộng rãi ở các nước phát triển trên thế giới là sử dụng chế phẩm NEB26, đây là chế phẩm được trộn trực tiếp với đạm trước khi bón cho lúa, chất này có tác dụng điều chỉnh phản ứng thủy phân urê sau khi bón vào đất thông qua việc tác động đến enzim urease. Kết hợp hai phương pháp trên tiết kiệm đáng kể lượng đạm bị thất thoát trong canh tác. Kết quả nghiên cứu của đề tài làm cơ sở cho các công trình nghiên cứu sau này nhằ m góp phần mở rộng phạm vi sử dụng chế phẩm tiết kiệm đạm.
n 4 Đặc biệt là việc tìm ra các công thức sử dụng chế phẩm siêu phân bón NEB26 kết hợp phân đạm để tiết kiệm chi phí đầu tư , tăng năng suất cây trồng và giữ được cân bằ ng sinh thái của ruộng lúa. Cơ sở thực tiễn Hiện nay, phân NEB26 đã được áp dụng rộng rãi ở nhiều tỉnh thành trong cả nước và đang là phương pháp bón phân mới được nhiều nông dân chấp nhận do những tác dụng mà phương pháp này mang lại như: làm tăng năng suất lúa, giảm chi phí phân bón, hạn chế chi phí bảo vệ thực vật. Nhìn chung ở những vùng mưa tập trung, đất dốc, điều kiện kinh tế nông hộ còn khó khăn và nhất là khi giá phân bón lên cao thì nông dân đều mong muốn được áp dụng các biện pháp làm giảm lượng phân bón. Nhiều vùng xung quanh những thành phố lớn cũng mong muốn áp dụng phương pháp nà y vì sẽ hạn chế được hàm lượng đạm dư thừa trong nông sản.
Trên thế giới cũng như nước ta hiện nay bên cạnh việc áp dụng các phương pháp bón phân tiết kiệm đạm thì một vấn đề cũng đang chú ý tới đó là sử dụng các chế phẩm hữu cơ để tiết kiệm lượng đạm bón. Việc sử dụng chế phẩm tiết kiệm đạm làm áo urê đã được một số nước như Mỹ, Trung Quốc, Philippines, Romani, Bangladesh… sử dụng và mang lại kết quả rất khả quan do việc hạn chế thêm được 25% lượng đạm thất thoát do biến thành amoniac bay vào không khí. Trong những năm gần đây giá cả phân đạm ngày càng tăng cao nên việc sử dụng chế phẩm tiết kiệm đạm là một giải pháp để hạn chế sử dụng đạm, qua đó có thể nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp. Tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa gạo trên thế giới và ở Việt Nam 2.
Tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa gạo trên thế giới Lúa là một trong ba cây lương thực quan trọng trên thế giới, là cây có giá trị dinh dưỡng cao. Trên thế giới hiện nay có hơn 100 nước trồng lúa , diện tích lúa gạo tương đối lớn đứng thứ hai sau lúa mì. Trong đó Châu Á là châu lục n 5 đứng đầu thế giới về diện tích cũng như sản lượng, tiếp theo là Châu Phi, Bắc Mỹ đến Nam Mỹ. Theo thống kê của tổ chức Nông nghiệp và Lương thực của Liên Hợp Quốc (FAO) thì từ trong vòng 30 năm 1970 – 2000 diện tích trồng lúa tăng từ 134.390 nghìn ha lên 154.
Tổng sản lượng lương thực tăng từ 308,767 triệu tấn lên 598,98 triệu tấn. Nhìn tổng quan về diện tích, năng suất và sản lượngdựa vào thống kê của FAO (2013) thì diện tích canh tác lúa toàn thế giới năm 2013 là 166,08 triệu ha, năng suất bình quân 4,48 tấn/ha, sản lượng 745,17 triệu tấn. Trong đó, diện tích lúa của Châu Á là 146,18 triệu ha chiếm 88,01 % tổng diện tích lúa thế giới.Tốc đọ tăng năng suất, diện tích và sản lượng lúa của các nước trong khu vực Châu Á đã góp phần đảm bảo lương thực, thực phẩm, cung cấp cho toàn cầu một cách tích cực và có vai trò quan trọng. Như vậy, Châu Á có thể coi là nguồn cung cấp lương thực cho toàn cầu.
Tiếp theo là Châu Phi 10,90 triệu ha (6,56 %), Châu Mỹ 6,53 triệu ha (3,93 %), Châu Âu 2,34 triệu ha (1,40 %), còn lại diện tích và sản lượng lúa ở Châu Đại Dương chiếm tỷ trọng không đáng kể. Những nước có diện tích lúa lớn nhất là Ấn Độ 43,50 triệu ha; Trung Quốc 30,22 triệu ha; Indonesia 13,83 triệu ha; Thái Lan 12,37 triệu ha; Bangladesh 11,77 triệu ha và Việt nam 7,89 triệu ha. Mỹ và Trung Quốc là hai nước có năng suất lúa dẫn đầu thế giới với số liệu thống kê của FAO năm 2013 là 8,62 và 6,72 tấn/ha. Việt Nam có năng suất lúa 5,58 tấn/ha cao hơn năng suất bình quân của thế giới là 4,48 tấn/ha nhưng chỉ đạt 64,73 % so với năng suất lúa bình quân của Mỹ.
Những nước có sản lượng lúa nhiều nhất thế giới năm 2013 là Trung Quốc 203,29 triệu tấn; Ấn Độ 159,20 triệu tấn; Indonesia 71,28 triệu tấn; Bangladesh 51,50 triệu tấn; Việt Nam 44,07 triệu tấn; Thái Lan 38,78 triệu tấn và Myanmar 28,00 triệu tấn. n 6 Theo số liệu thống kê của FAO về thương mại gạo thế giới năm2013 duy trì ở mức 37,5 triệu tấn.Theo báo cáo của Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) Năm nước xuất khẩu gạo đứng đầu thế giới năm 2013 là Ấn Độ 9,61 triệu tấn, Thái lan 6,79 triệu tấn, Việt Nam 6,74 triệu tấn, Pakistan 3,41 triệu tấn, Mỹ 3,37 triệu tấn. Sở dĩ đạt được những thành tựu ngày một phát triển như vậy là do áp dụng được các tiến bộ về khoa học kỹ thuật như: đầu tư phân bón, sử dụng giống lúa mới có năng suất cao và phẩm chất tốt, xây dựng cơ sở vật chất, hoàn chỉnh về biện pháp kỹ thuật. Theo dự đoán về sự phát triển dân số đến năm 2050 là khoảng 8,909 tỷ người với tỷ lệ tăng hằng năm là 0,4%.
Với tốc độ tăng dân số nhanh chóng , diện tích đất trồng trọt ngày càng bị thu hẹp thì vấn đề an ninh lương thực vẫn luôn đóng vai trò quan trọng hàng đầu đối với nhiều quốc gia trên thế giới.