Tổng quan nghiên cứu

Lúa gạo là nguồn lương thực thiết yếu nuôi sống hơn 3,5 tỷ người trên toàn cầu, với hơn 75% sản lượng lúa thế giới được sản xuất từ châu Á. Tại tỉnh Bắc Kạn, cây lúa đóng vai trò trụ cột trong việc đảm bảo an ninh lương thực địa phương. Năm 2015, diện tích gieo cấy lúa toàn tỉnh đạt trên 24.000 ha, đạt sản lượng 117.000 tấn và chiếm 63% tổng sản lượng lương thực có hạt (toàn tỉnh đạt 185.000 tấn, bình quân lương thực đạt trên 600 kg/người/năm). Cơ cấu sản xuất lúa của tỉnh có tới 82% diện tích sử dụng các giống lúa thuần, trong đó Khang dân 18 và Khang dân đột biến là hai giống mùa sớm chủ lực.

Tuy nhiên, năng suất lúa bình quân toàn tỉnh chỉ đạt 48 tạ/ha, chưa tương xứng với tiềm năng di truyền của giống. Vấn đề nghiên cứu then chốt xuất phát từ tập quán canh tác lạc hậu: người dân áp dụng một mật độ cấy dày và lượng phân bón đồng nhất cho tất cả các giống lúa có đặc tính sinh trưởng khác nhau. Việc cấy quá dày không chỉ làm tăng chi phí giống mà còn khiến ruộng lúa kém thông thoáng, gia tăng nguy cơ bùng phát sâu bệnh hại.

Nhằm hiện thực hóa Nghị quyết số 34/NQ-HĐND ngày 10/12/2010 của Hội đồng nhân dân tỉnh Bắc Kạn về việc đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ kỹ thuật để nâng cao năng suất và chất lượng cây trồng, nghiên cứu này được triển khai nhằm xác định phương thức cấy theo hiệu ứng hàng biên thích hợp nhất cho giống Khang dân 18 và Khang dân đột biến. Nghiên cứu thực nghiệm được tiến hành từ ngày 15/6/2016 đến ngày 15/10/2016 tại phường Xuất Hóa, thành phố Bắc Kạn. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài là cung cấp giải pháp kỹ thuật giúp giảm 15% đến 22% mật độ khóm cấy, tiết kiệm 30% đến 50% chi phí giống và thuốc bảo vệ thực vật, đồng thời nâng cao năng suất lúa từ 10% đến 18%.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết sinh thái học quần thể ruộng lúa và nguyên lý tạo lập ruộng lúa năng suất cao do Zhong và các cộng sự đề xuất năm 2003, nhấn mạnh sự tương tác giữa cấu trúc tán lá, tiểu khí hậu dưới tán và khả năng kháng bệnh của cây lúa. Cơ sở khoa học thứ hai là sáng chế kỹ thuật cấy lúa theo hiệu ứng hàng biên của tác giả Chu Văn Tiệp và Trịnh Thị Thanh, được Cục Sở hữu trí tuệ cấp Bằng độc quyền sáng chế số 14514 ngày 16/11/2014. Nguyên lý này tận dụng khoảng cách hàng rộng xen kẽ hàng hẹp để tối đa hóa ánh sáng chiếu trực tiếp vào gốc và thân, kích thích lúa phát triển rễ, đẻ nhánh sớm và tăng số hạt trên bông.

Bên cạnh đó, đề tài vận dụng các quy luật về mật độ cấy và năng suất lúa của Viện sĩ Bùi Huy Đáp (1999) và Giáo sư Đào Thế Tuấn (1963), khẳng định mối quan hệ parabol giữa mật độ quần thể và năng suất hạt. Các khái niệm chính bao gồm: "hiệu ứng hàng biên" (tạo khoảng không gian thoáng dọc mép luống), "mật độ cấy hữu hiệu" (số khóm và số dảnh tối ưu trên một mét vuông), "chỉ số diện tích lá" (tỷ lệ diện tích lá trên diện tích đất), "tỷ lệ nhánh hữu hiệu" (tỷ lệ phần trăm số nhánh phát triển thành bông mang hạt) và "hệ số kinh tế" (tỷ lệ giữa khối lượng hạt thương phẩm và tổng sinh khối chất khô).

Phương pháp nghiên cứu

Thí nghiệm được thực hiện ngoài đồng ruộng từ ngày 15/6/2016 đến ngày 15/10/2016 tại phường Xuất Hóa, thành phố Bắc Kạn. Thí nghiệm hai nhân tố được bố trí theo phương pháp khối ngẫu nhiên kiểu ô chính - ô phụ (Split-plot) với 3 lần nhắc lại. Tổng số có 8 công thức thí nghiệm trên 24 ô, diện tích mỗi ô là 11,7 m2 (kích thước 4,5 m x 2,6 m). Xung quanh khu thí nghiệm có 3 hàng lúa bảo vệ cách ly 40 cm.

Nhân tố thứ nhất là 4 phương thức cấy: P1 là đối chứng cấy đều truyền thống khoảng cách 20 x 15 cm (434 khóm/ô); P2 là cấy 5 hàng bỏ 1 hàng (372 khóm/ô, bằng 85% đối chứng); P3 là cấy 4 hàng bỏ 1 hàng (372 khóm/ô, bằng 85% đối chứng); P4 là cấy 3 hàng bỏ 1 hàng (341 khóm/ô, bằng 78% đối chứng). Nhân tố thứ hai là 2 giống lúa thuần ngắn ngày: G1 là Khang dân 18 (công nhận theo Quyết định 1659 QĐ/BNN-KHCN) và G2 là Khang dân đột biến (tạo ra bằng xử lý phóng xạ Gamma Co60, chuyển giao theo Hợp đồng 17/HĐCN-GCT-2007). Tất cả các công thức đều cấy 1 dảnh/khóm và bón phân đồng mức gồm 4 tấn phân chuồng, 120 kg đạm nguyên chất, 90 kg lân và 90 kg kali cho mỗi hecta.

Quy trình theo dõi và lấy mẫu tuân thủ nghiêm ngặt Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 01-55:2011/BNNPTNT. Phương pháp chọn mẫu áp dụng kỹ thuật ngẫu nhiên phân tầng, cố định 10 cây/ô tại các vị trí hàng biên và hàng giữa để theo dõi sinh trưởng, tỷ lệ đẻ nhánh, trọng lượng sinh khối chất khô (rễ, thân, lá) và mức độ nhiễm sâu bệnh hại chính (sâu đục thân, sâu cuốn lá, đạo ôn, bạc lá). Dữ liệu thu thập được xử lý thống kê bằng phần mềm Excel 2010 và IRRISTAT 5.0 nhằm kiểm định phương sai ANOVA, tính sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa thống kê LSD ở mức xác suất tin cậy 95% (P < 0,05) và hệ số biến động CV%, giúp đảm bảo tính chuẩn xác và khách quan cho các kết luận nông học.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cấy theo hiệu ứng hàng biên thúc đẩy rõ rệt chiều cao cây và tích lũy chất khô qua từng giai đoạn sinh trưởng. Ở giai đoạn chín, giống Khang dân đột biến ở phương thức cấy 4 hàng bỏ 1 (P3) đạt chiều cao 108,2 cm và ở phương thức 3 hàng bỏ 1 (P4) đạt 109,7 cm, vượt trội có ý nghĩa thống kê so với đối chứng P1 chỉ đạt 104,7 cm. Về sinh khối chất khô, giống Khang dân đột biến ở công thức P3 đạt trọng lượng rễ 5,3 gam/khóm, thân 32,1 gam/khóm và lá 22,1 gam/khóm, cao hơn đối chứng P1 tương ứng 17,8%, 3,9% và 23,5%.

Thứ hai, hiệu ứng hàng biên cải thiện vượt bậc khả năng đẻ nhánh và nâng cao tỷ lệ nhánh hữu hiệu. Giống Khang dân đột biến khi cấy theo phương thức 4 hàng bỏ 1 (P3) đạt tổng số 11,6 nhánh/khóm và số nhánh hữu hiệu đạt 9,1 nhánh/khóm, tỷ lệ nhánh hữu hiệu đạt mức cao nhất là 78,4% (tăng 24,7% số nhánh hữu hiệu so với mức 7,3 nhánh/khóm của đối chứng). Đối với Khang dân 18, công thức P3 cũng đạt 6,9 nhánh hữu hiệu/khóm với tỷ lệ hữu hiệu 72,7%, cao hơn hẳn đối chứng P1 (5,7 nhánh hữu hiệu/khóm, tỷ lệ 65,8%).

Thứ ba, sự thông thoáng của quần thể làm giảm mạnh tỷ lệ nhiễm sâu bệnh hại chính. Tại các công thức cấy hàng rộng - hàng hẹp, mức độ gây hại của sâu đục thân, sâu cuốn lá và bệnh khô vằn chỉ dừng ở điểm 1 đến điểm 3 (dưới 10% đến 20% mức độ hại), trong khi ô đối chứng cấy dày P1 bị nhiễm ở cấp 5 (21% đến 35% diện tích lá bị hại).

Thứ tư, các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất thực thu của phương thức cấy hàng biên đều vượt trội. Giống Khang dân đột biến áp dụng phương thức cấy 4 hàng bỏ 1 (P3) đạt năng suất thực thu cao nhất trong toàn bộ thí nghiệm, vượt năng suất của Khang dân 18 từ 13% đến 15% và cao hơn đối chứng cấy dày truyền thống từ 10% đến 18%.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến sự gia tăng vượt trội về sinh trưởng và năng suất là do việc bỏ 1 hàng lúa tạo ra khoảng không gian mở từ 38 cm đến 40 cm. Khoảng cách này cho phép ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp vào tận gốc và đốt thân thấp nhất, kích hoạt hoạt động quang hợp thuần và thúc đẩy rễ phát triển sâu vào tầng đất canh tác. Nhờ nhận đủ quang năng, các dảnh lúa đẻ sớm trở thành nhánh hữu hiệu đồng đều, hạn chế tối đa hiện tượng đẻ nhánh lai rai và tiêu hao dinh dưỡng vô hiệu. Hơn nữa, tiểu khí hậu dưới tán lúa khô ráo và thoáng gió đã triệt tiêu môi trường ẩm ướt yếm khí, ngăn chặn sự sinh sôi của nấm bệnh và rầy nâu.

Kết quả thực nghiệm này tương đồng với các nghiên cứu tại Trung tâm Khuyến nông Hải Phòng năm 2015 (năng suất cấy hàng biên tăng 20% đến 30%, số bông/khóm tăng gấp 2 lần) và mô hình tại huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La năm 2015 (năng suất tăng 1,3 đến 1,4 tấn/ha, giảm 50% lượng giống). Tại Nam Định năm 2015, mô hình cấy hàng rộng - hàng hẹp trên giống lúa thuần và lúa lai cũng ghi nhận mức tăng lợi nhuận từ 37,6% đến 107,1%.

Dữ liệu thực nghiệm của nghiên cứu có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ cột kép so sánh số nhánh hữu hiệu và năng suất thực thu giữa 4 phương thức cấy trên 2 giống lúa, kết hợp biểu đồ phân tán hồi quy biểu diễn tương quan thuận giữa khối lượng rễ (gam) với số hạt chắc trên bông, và bảng ma trận thể hiện chi phí đầu vào cùng lãi thuần trên một hecta.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, chuẩn hóa và chuyển giao quy trình cấy 4 hàng bỏ 1 (phương thức P3) cho nông dân trồng lúa vụ mùa tại tỉnh Bắc Kạn. Trung tâm Khuyến nông tỉnh cần phối hợp với Phòng Kinh tế các huyện chỉ đạo áp dụng kỹ thuật này, đặt mục tiêu nâng cao năng suất thực thu thêm 12% đến 18% và tiết kiệm 15% đến 20% lượng phân bón vô cơ trong lộ trình 2018-2020.

Thứ hai, mở rộng diện tích gieo cấy giống Khang dân đột biến thay thế dần giống Khang dân 18 truyền thống. Ủy ban nhân dân các huyện Ba Bể, Chợ Đồn, Na Rỳ và thành phố Bắc Kạn cần đưa Khang dân đột biến vào cơ cấu giống chủ lực vụ mùa, phấn đấu nâng tỷ lệ diện tích gieo trồng giống này lên 60% đến 70% diện tích lúa thuần, giúp tăng giá trị thu nhập thêm từ 4,5 đến 6,0 triệu đồng trên mỗi hecta.

Thứ ba, áp dụng quy trình bón phân cân đối tập trung theo hàng hẹp kết hợp cấy mạ non 1 dảnh/khóm. Các hợp tác xã nông nghiệp cần hướng dẫn bà con bón lót toàn bộ 4 tấn phân chuồng cùng 100% phân lân và 50% đạm, bón đón đòng trước trỗ 20 ngày với 20% đạm và 50% kali, tránh bón vãi tràn lan vào hàng sông rộng để tối ưu hóa hiệu suất hấp thu dinh dưỡng và nâng tỷ lệ hạt chắc đạt trên 85%.

Thứ tư, tổ chức chuỗi lớp tập huấn kỹ thuật đầu bờ và xây dựng các mô hình trình diễn quy mô lớn. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bắc Kạn cần bố trí nguồn kinh phí sự nghiệp nông nghiệp để tổ chức 10 đến 15 lớp tập huấn chuyên sâu mỗi năm, xây dựng 5 mô hình cánh đồng mẫu lớn ứng dụng hiệu ứng hàng biên với quy mô từ 2 đến 5 ha mỗi mô hình trong giai đoạn 2018-2022.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là cán bộ kỹ thuật nông nghiệp, chuyên viên khuyến nông cấp tỉnh, huyện và xã. Tài liệu cung cấp thông số kỹ thuật chi tiết về khoảng cách gieo cấy, định mức phân bón và lịch trình theo dõi sâu bệnh, làm tài liệu đào tạo thực hành cho các chương trình phát triển nông thôn.

Nhóm thứ hai là sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Khoa học cây trồng, Nông học và Bảo vệ thực vật. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp bố trí thí nghiệm ô chính - ô phụ (Split-plot), kỹ thuật xử lý số liệu bằng phần mềm IRRISTAT 5.0 và các phân tích tương quan sinh học giữa mật độ quần thể với năng suất cây trồng.

Nhóm thứ ba là các chủ trang trại, giám đốc hợp tác xã nông nghiệp và bà con nông dân trực tiếp canh tác lúa tại khu vực miền núi phía Bắc. Người sản xuất có thể ứng dụng ngay công thức cấy 4 hàng bỏ 1 để cắt giảm 50% chi phí mạ giống, giảm 2 đến 3 lần phun thuốc bảo vệ thực vật và gia tăng lợi nhuận kinh tế từ 300.000 đến 450.000 đồng trên mỗi sào Bắc Bộ.

Nhóm thứ tư là các nhà hoạch định chính sách nông nghiệp và quản lý ngành nông thôn. Báo cáo cung cấp luận cứ khoa học định lượng giúp các cơ quan quản lý ban hành chính sách cơ cấu mùa vụ, quy hoạch vùng sản xuất lúa thâm canh hàng hóa chất lượng cao và xây dựng đề án thích ứng với biến đổi khí hậu dựa trên kỹ thuật canh tác tiết kiệm tài nguyên.

Câu hỏi thường gặp

Kỹ thuật cấy theo hiệu ứng hàng biên là gì và nguyên lý hoạt động ra sao?

Kỹ thuật cấy theo hiệu ứng hàng biên là phương pháp bố trí mật độ cấy lúa theo các hàng rộng xen kẽ hàng hẹp hoặc định kỳ bỏ một hàng không cấy, được bảo hộ sáng chế số 14514 năm 2014. Nguyên lý cốt lõi là tạo khoảng không gian thoáng giúp ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp vào gốc và thân, kích thích lúa đẻ nhánh khỏe, tăng số hạt trên bông và giảm 15% đến 22% mật độ khóm cấy.

Tại sao mật độ khóm giảm từ 15% đến 22% nhưng năng suất thực thu lại tăng?

Mặc dù số khóm trên một đơn vị diện tích giảm từ 434 khóm xuống còn 341 đến 372 khóm mỗi ô 11,7 m2, nhưng nhờ quang hợp tối ưu, số nhánh hữu hiệu trên khóm tăng mạnh từ 20% đến 25% (đạt 9,1 nhánh hữu hiệu/khóm). Đồng thời, số hạt chắc trên bông tăng từ 25% đến 35% và tỷ lệ lép giảm rõ rệt, bù đắp hoàn toàn và làm tăng năng suất thực thu từ 10% đến 18%.

Giống Khang dân đột biến có những điểm vượt trội nào so với giống Khang dân 18?

Khang dân đột biến được tạo ra từ nguồn phóng xạ Gamma Co60, sở hữu thân cây to, cứng cáp, chiều cao đạt 108,2 cm và bộ rễ phát triển đạt 5,3 gam/khóm, giúp tăng khả năng chống đổ ngã. Giống này đạt tỷ lệ nhánh hữu hiệu 78,4% (cao hơn Khang dân 18 đạt 72,7%), ít nhiễm bệnh khô vằn, cho năng suất cao hơn từ 13% đến 15% và chất lượng cơm mềm hơn.

Phương thức cấy nào mang lại hiệu quả cao nhất trong điều kiện đất đai Bắc Kạn?

Kết quả thực nghiệm khẳng định phương thức P3 (cứ 4 hàng lúa bỏ 1 hàng) kết hợp với giống Khang dân đột biến là công thức tối ưu nhất. Phương thức này vừa đảm bảo mật độ 372 khóm/ô (bằng 85% đối chứng) vừa tận dụng tối đa ánh sáng hàng biên, mang lại số bông trên mét vuông hợp lý nhất và tối đa hóa lợi nhuận kinh tế trên mỗi hecta.

Quy trình bón phân cho ruộng lúa cấy theo hiệu ứng hàng biên có điểm gì cần chú ý?

Người sản xuất cần bón phân tập trung theo hàng hẹp (hàng sông con), tuyệt đối không rải phân vào hàng sông rộng để tránh thất thoát và cỏ dại phát triển. Tổng lượng bón chuẩn cho một hecta gồm 4 tấn phân chuồng, 120 kg đạm nguyên chất, 90 kg lân và 90 kg kali, trong đó cần chú trọng bón đón đòng trước khi trỗ bông 20 ngày với tỷ lệ 20% đạm và 50% kali.

Kết luận

  • Phương thức cấy 4 hàng bỏ 1 (P3) giúp cây lúa sinh trưởng vượt trội, tăng trọng lượng rễ lên 5,3 gam/khóm và tỷ lệ nhánh hữu hiệu đạt 78,4%.
  • Giống Khang dân đột biến thể hiện tính ưu việt rõ rệt so với Khang dân 18 về chiều cao thân lá, khả năng chống đổ ngã và năng suất thực thu cao hơn từ 13% đến 15%.
  • Môi trường ruộng lúa thông thoáng làm giảm đáng kể áp lực gây hại của sâu đục thân, sâu cuốn lá, bệnh khô vằn và bạc lá, giúp cắt giảm từ 30% đến 50% lượng thuốc bảo vệ thực vật.
  • Công thức phối hợp P3G2 (cấy 4 hàng bỏ 1 trên giống Khang dân đột biến) mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất, gia tăng thu nhập hàng triệu đồng trên mỗi hecta gieo cấy.
  • Luận văn đã cung cấp luận cứ khoa học thực nghiệm vững chắc, hoàn thiện quy trình thâm canh lúa tiên tiến cho tỉnh Bắc Kạn và các tỉnh trung du miền núi phía Bắc.

Đóng góp lớn nhất của công trình là giải quyết hài hòa mâu thuẫn giữa giảm mật độ khóm cấy và tăng năng suất hạt thông qua giải pháp khai thác quang năng hàng biên. Trong lộ trình 2018-2022, các địa phương cần đẩy mạnh xây dựng mô hình cánh đồng mẫu lớn và ban hành chính sách trợ giá giống để nhân rộng tiến bộ kỹ thuật này. Hãy chủ động áp dụng kỹ thuật cấy lúa theo hiệu ứng hàng biên và lựa chọn giống Khang dân đột biến ngay trong vụ mùa tới nhằm tiết kiệm chi phí đầu vào, bảo vệ môi trường sinh thái và tối đa hóa lợi nhuận kinh tế cho gia đình!